Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM Hơn một thế kỷ nay, Văn hóa học đã trở thành một ngành khoa học có đối tượng và chức năng riêng được các nhà nghiên cứu ở các nước Anh (Edward Burnett Tylor, 1897), Nga (Nikolay Yakovlevich Danilevsky, 1880), Đức (Wilhelm Ostwald, 1909), Mỹ (Leslie Alvin White, 1949) và các nhà khoa học ở nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu thường lấy “Việt Nam văn hóa sử cương” [2] của tác giả Đào Duy Anh làm mốc cho việc nghiên cứu văn hóa. Đặc biệt từ tháng 4 năm 1943, Hội Văn hóa cứu quốc ra đời đã tập hợp được hầu hết các trí thức tiêu biểu của đất nước cho công cuộc xây dựng và phát triển một nền văn hóa dân tộc và cách mạng.
Văn hóa đã được nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu bàn đến trực tiếp, tạo ra không khí học thuật sôi nổi trong các công trình như: “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của Phan Ngọc [41], “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm [61], “Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm” của Trần Quốc Vượng [77], “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” của Nguyễn Khoa Điềm [19]… những năm cuối thế kỷ XX. Các công trình nghiên cứu cho thấy, văn hóa trở thành một khoa học thực sự, nội hàm của khái niệm bao quát một phạm vi rất rộng lớn và phụ thuộc vào đối tượng và mục tiêu của nhà nghiên cứu. Trong số những tác giả bàn về văn hóa và bản sắc văn hóa, nhà nghiên cứu Lê Quang Thiêm là người bàn nhiều đến phương pháp luận. Trong công trình “Văn hóa văn minh và yếu tố truyền thống văn hóa Hàn” [63], ông đã đi từ định vị bản sắc văn hóa để nêu lên các bình diện của bản sắc văn hóa dân luan an 12 tộc.
Lê Quang Thiêm đã phân biệt 3 thuật ngữ: bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc và ông đi đến kết luận: “Bản sắc văn hóa là hệ thống giá trị sáng tạo đặc trưng, tinh túy nhất, đặc sắc nhất của nền văn hóa tương ứng hay nói cách khác, bản sắc văn hóa là những giá trị sáng tạo đặc trưng nhất, tiêu biểu nhất, lâu bền nhất của văn hóa” [63, tr. Trên cơ sở đó, ông xác định các đường hướng chung cho việc tìm hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam. Ông cho rằng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là bản sắc văn hóa của quốc gia đa dân tộc, tiếp biến nhuần nhuyễn những yếu tố văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, Âu Mỹ, hòa đồng với tự nhiên, làng bản, đất nước. Một bản sắc văn hóa đa dạng, đa sắc màu, cởi mở, tiếp xúc, tiếp biến.
Theo ông, bản sắc văn hóa Việt Nam cũng còn biểu hiện ở một số hằng số tự nhiên. Đó là sự kiên trì, bản lĩnh bám trụ, trách nhiệm đối với dân tộc và cộng đồng của chủ thể sáng tạo. Từ góc độ lịch sử để nghiên cứu văn hóa, có thể khẳng định những nghiên cứu của Trần Quốc Vượng đã thu được nhiều thành công. Với công trình “Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm” [77], tác giả đặt văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á và Đông Á.
Trong khi một số nhà nghiên cứu trên thế giới phủ nhận sự hiện hữu của văn hóa Việt Nam, coi Việt Nam là một Trung Hoa thu nhỏ, xếp tiếng Việt vào nhóm Hán - Tạng thì những nghiên cứu về văn hóa của Trần Quốc Vượng đã có tính cách mạng đối với văn hóa Việt Nam: “Văn hóa Việt Nam, văn minh sông Hồng và văn hóa Trung Quốc, văn minh Hoàng Hà, khác nhau từ căn bản, từ cội nguồn” [77, tr. Ông bàn về bản sắc văn hóa Việt Nam từ nhiều góc nhìn khi có cơ hội. Tuy nhiên những nghiên cứu về bản sắc văn hóa của Trần Quốc Vượng thiên về những gợi mở về phương pháp luận và các hướng tiếp cận cho các nhà nghiên cứu. Không đi sâu vào những vấn đề có tính lịch đại, nhưng những kết quả nghiên cứu bản sắc văn hóa ở phương diện đồng đại của các tác giả Huỳnh Khái luan an 13 Vinh, Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Khoa Điềm, Đặng Đức Siêu.
đã để lại những đóng góp có giá trị. Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu văn hóa Việt Nam, tác giả Hồ Sĩ Vịnh (1999) trong công trình “Văn hóa văn học, một hướng tiếp cận mới” cho rằng: “Bản sắc dân tộc là một tổng hòa những đặc điểm của một dân tộc trên nhiều mặt: lịch sử, địa lý, truyền thống, tâm lý… đã tạo nên diện mạo và dáng vóc riêng của dân tộc đó” [75, tr. Bên cạnh đó, ông cũng phân biệt hai thuật ngữ bản sắc dân tộc và bản sắc dân tộc trong văn hóa. Ông coi văn hóa là “gương mặt của dân tộc” và “bản sắc dân tộc trong văn hóa có mặt tích cực cũng như mặt phiến diện, mặt tươi sáng và mặt phức tạp do hoàn cảnh xã hội, chiều dày lịch sử, môi trường địa lý, truyền thống và tâm lý của cộng đồng trên mảnh đất lâu đời đó tạo nên” [75, tr.
Cũng trong công trình nghiên cứu “Tìm về bản sắc dân tộc của văn hóa” (Hồ Sĩ Vịnh chủ biên), Quang Đạm, tác giả bài viết “Thử miêu tả bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa Việt Nam” nhận xét: “Bản sắc dân tộc là sắc thái bao quát một cách uyển chuyển, linh hoạt những đặc điểm của dân tộc, tạo nên diện mạo và hình dạng riêng của dân tộc ấy không thể đồng nhất với dân tộc khác trong cộng đồng khu vực hay cộng đồng loài người” [45, tr. Đứng ở góc độ khoa học chính trị, công trình tập thể “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” [19] do nhà nghiên cứu Nguyễn Khoa Điềm chủ biên rất cần được lưu ý vì tính chất phổ quát của nó. Từ quan điểm của Đảng về văn hóa, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề bản sắc văn hóa với phương châm bảo vệ quyền lợi chính trị của quốc gia, dân tộc. Văn hóa và bản sắc văn hóa được đặt ra trong mối liên hệ nhiều chiều có tính biện chứng.
Trong quá trình nghiên cứu năm giai đoạn phát triển của văn hóa, các tác giả đã khái quát năm đặc điểm của văn hóa Việt Nam và khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc được xác định là sự tổng hòa của các khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo văn hóa của một dân tộc; có mối liên hệ luan an 14 thường xuyên và định hướng của cái riêng (văn hóa dân tộc) với cái chung (văn hóa khu vực, văn hóa nhân loại); liên hệ lâu dài, sâu sắc và bền vững với lịch sử dân tộc. Những lý giải như vậy có ý nghĩa gợi mở các hướng nghiên cứu truyền tải và giao lưu văn hóa. Vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là bàn luận của các nhà văn hóa mà còn là vấn đề của Đảng, vấn đề của cả dân tộc. Trên cơ sở các kết luận của các nhà khoa học tâm huyết với nền văn hóa dân tộc, kết luận của các hội nghị khoa học về văn hóa Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổng kết và đưa vào Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 5 (Khóa VIII) nội dung bản sắc văn hóa Việt Nam: Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống… Bản sắc dân tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo [16]. Ở cách tiếp cận văn hóa dưới góc độ triết học, các nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức và Hồ Sĩ Quý trong công trình “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [11] đã đưa ra một cách nhìn mới về bản sắc văn hóa. Trong phần xác định các giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam, các nhà triết học đã thống nhất với nhiều nhà văn hóa lịch sử trong việc khẳng định hằng số văn hóa được bản sắc hóa dựa trên cơ sở tập hợp các yếu tố: địa - văn hóa nhiệt đới, gió mùa bán đảo; cư dân sống thành làng xã làm ruộng, làm vườn, có thiết chế gia đình huyết tộc như nhiều cư dân Nam Á. Các tác giả đã khẳng định những đặc điểm về địa luan an 15 chính trị, về tiềm năng thích ứng của người Việt Nam, về chủ nghĩa nhân văn giàu lòng yêu nước, vị tha, tự lực, tự cường, về văn hóa tâm linh, tục thờ Mẫu, nghệ thuật dân gian, văn chương bác học… Điều đặc biệt là dưới góc độ triết học, các nhà nghiên cứu còn nhấn mạnh những giá trị không thuộc về ưu điểm của văn hóa truyền thống.
Trong nền văn hóa ngàn năm của người Việt, công nghiệp, thương nghiệp, luật pháp không phải đã được chú trọng để nâng cao năng suất và giữ gìn trật tự xã hội. Sĩ tử đi thi thường nghĩ đến sự giúp nước, làm quan; không làm quan thì làm thầy. Cách đánh giá những giá trị văn hóa truyền thống với chủ trương bảo tồn và phát huy những giá trị đó trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa như vậy rất thiết thực trong thời đại hiện nay. Những cách tiếp nhận như đã kể trên có sự đan xen, phối hợp của nhiều phương pháp khoa học nhưng dấu ấn của một ngành khoa học cụ thể vẫn để lại đậm nét trong cách lập luận, trong các vấn đề mà các tác giả đưa ra nhận xét.
Bên cạnh việc tiếp cận bản sắc văn hóa qua cách nhìn của một ngành khoa học, lại có những nhà nghiên cứu đi từ những yếu tố văn hóa để khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là những công trình tiêu biểu về văn hóa và bản sắc văn hóa của hai nhà nghiên cứu Phan Ngọc và Trần Ngọc Thêm.