Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự gia tăng nhanh chóng về quy mô thông tin và ứng dụng dữ liệu lớn (big data) trong kỷ nguyên kinh tế số đã tác động trực tiếp đến cách thức vận hành của thị trường tài chính toàn cầu. Dù nguồn dữ liệu lớn cung cấp nền tảng giá trị cho các quyết định đầu tư chiến lược, tính phức tạp của thông tin kế toán cũng tạo nên rào cản phân tích đáng kể đối với người sử dụng thông tin tài chính, đặc biệt là nhóm nhà đầu tư thiếu nguồn lực chuyên sâu (Lokanan, 2014). Tình trạng này làm phát sinh nguy cơ các doanh nghiệp lợi dụng sự bất cân xứng thông tin để cố tình bóp méo hoặc che giấu các chỉ tiêu trọng yếu trong báo cáo tài chính hàng năm (Rezaee, 2002; Albrecht và cộng sự, 2006; Robinson và Lokanan, 2017). Về mặt lý luận, độ tin cậy là yêu cầu cốt lõi của hệ thống kế toán; tuy nhiên, do báo cáo tài chính ngày càng phụ thuộc vào các xét đoán và ước tính kế toán chủ quan, số liệu tài chính trở nên dễ bị can thiệp bởi ban điều hành (Comiskey và Mulford, 2002).

Tại thị trường chứng khoán Việt Nam, tỷ lệ thao túng thông tin tài chính được ghi nhận ở mức cao trong quá trình phát triển (Tran, 2013). Cùng với sự mở rộng về số lượng doanh nghiệp niêm yết, áp lực cạnh tranh khốc liệt đã thúc đẩy các hành vi sai lệch; số liệu từ Cục Quản lý Đăng ký Kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2018) cho thấy số lượng doanh nghiệp phá sản và báo cáo gian lận gia tăng liên tục: 9.467 công ty năm 2015, 12.478 công ty năm 2016 và 6.608 công ty chỉ trong 7 tháng đầu năm 2017. Các phương pháp đối chiếu truyền thống khó có thể xử lý hiệu quả khối lượng giao dịch bất thường phức tạp này (Fan và Li, 2006). Vì vậy, đề tài "Gian lận trong báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam" được tác giả Nguyễn Hoa Trà My thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Hải Hà tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội (khóa luận bảo vệ tháng 05/2023) nhằm đánh giá thực trạng và nhận diện rủi ro sai phạm tài chính bằng các mô hình định lượng.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Làm rõ những động cơ dẫn đến việc các công ty gian lận số liệu trong báo cáo tài chính.
  2. Tìm hiểu những thủ thuật và hành vi gian lận báo cáo tài chính cụ thể được phát hiện.
  3. Đánh giá thực trạng gian lận trong báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết Việt Nam.
  4. Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế những gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Việt Nam.

Khóa luận tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Động cơ nào khiến các công ty làm sai lệch số liệu trong báo cáo tài chính?
  • Câu hỏi 2: Những gian lận trong báo cáo tài chính là gì?
  • Câu hỏi 3: Thực trạng gian lận trong báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là gì?
  • Câu hỏi 4: Giải pháp nào nhằm hạn chế những gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hành vi gian lận trong báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Mẫu khảo sát gồm 400 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó bao gồm 221 doanh nghiệp thuộc Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), 173 doanh nghiệp thuộc Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), 4 doanh nghiệp thuộc sàn UPCoM và 2 doanh nghiệp trên thị trường OTC.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích chuỗi dữ liệu báo cáo tài chính kiểm toán trong giai đoạn 4 năm, từ năm 2018 đến năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý thuyết thông qua hệ thống văn bản pháp lý và chuẩn mực kế toán hiện hành:

  • Khái niệm báo cáo tài chính căn cứ theo Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 01 của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB), Khoản 1 Điều 3 Luật Kế toán số 88/2015/QH13 và Thông tư số 200/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính, xác định báo cáo tài chính là hệ thống thông tin phản ánh tình hình tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí và các luồng tiền của đơn vị kế toán.
  • Định nghĩa gian lận dựa theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA số 240: hành vi cố ý do một hay nhiều người trong ban quản trị, ban giám đốc, nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp.
  • Dữ liệu nghiên cứu của Hiệp hội Kiểm tra Gian lận Hoa Kỳ (ACFE, 2022) phân chia gian lận thành ba nhóm: Biển thủ tài sản (chiếm 86% số vụ, tổn thất trung bình 100.000 USD), Tham ô (chiếm 50% số vụ, tổn thất trung bình 150.000 USD) và Gian lận báo cáo tài chính (chiếm 9% số vụ nhưng gây thiệt hại trung bình cao nhất, lên tới 593.000 USD/vụ; tính chung gian lận làm thất thoát khoảng 5% doanh thu hàng năm của tổ chức).
  • Khung lý thuyết hành vi ứng dụng Mô hình Tam giác gian lận của Donald Cressey (1950) bao gồm 3 yếu tố: Áp lực/Động cơ (Pressure/Incentive), Cơ hội (Opportunity) và Sự hợp lý hóa/Thái độ (Rationalization); kết hợp Mô hình Bàn cân gian lận của W. Steve Albrecht (1980, 2012) gồm hoàn cảnh áp lực, cơ hội và tính trung thực cá nhân cùng danh mục 50 dấu hiệu cảnh báo đỏ (red flags); lý thuyết dồn tích kế toán của DeAngelo (1986).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm chủ đạo là mô hình định lượng M-Score do Giáo sư Messod D. Beneish (1999) phát triển. Mô hình phân tích 8 biến số tài chính phản ánh khả năng và động cơ thao túng báo cáo tài chính:

Ký hiệu biến Tên chỉ số Công thức xác định Nhóm biến
DSRI Days Sales Receivable Index $\frac{\text{Phải thu}t / \text{Doanh thu}t}{\text{Phải thu}{t-1} / \text{Doanh thu}{t-1}}$ Nhận diện gian lận
GMI Gross Margin Index $\frac{\text{Lãi gộp}{t-1} / \text{Doanh thu}{t-1}}{\text{Lãi gộp}_t / \text{Doanh thu}_t}$ Động cơ gian lận
AQI Asset Quality Index $\frac{1 - (\text{CA}t + \text{PPE}t)/\text{TA}t}{1 - (\text{CA}{t-1} + \text{PPE}{t-1})/\text{TA}{t-1}}$ Nhận diện gian lận
SGI Sales Growth Index $\frac{\text{Doanh thu}t}{\text{Doanh thu}{t-1}}$ Động cơ gian lận
DEPI Depreciation Index $\frac{\text{Khấu hao}{t-1} / (\text{PPE}{t-1} + \text{Khấu hao}_{t-1})}{\text{Khấu hao}_t / (\text{PPE}_t + \text{Khấu hao}_t)}$ Nhận diện gian lận
SGAI Sales, General & Administrative Expense Index $\frac{\text{SGA}t / \text{Doanh thu}t}{\text{SGA}{t-1} / \text{Doanh thu}{t-1}}$ Động cơ gian lận
TATA Total Accruals to Total Assets $\frac{\text{Biến dồn tích}_t}{\text{TA}_t}$ Nhận diện gian lận
LVGI Leverage Index $\frac{\text{Nợ phải trả}t / \text{TA}t}{\text{Nợ phải trả}{t-1} / \text{TA}{t-1}}$ Động cơ gian lận

(Ghi chú trong công thức: CA là tài sản ngắn hạn; PPE là giá trị còn lại của tài sản cố định; TA là tổng tài sản; SGA là chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp).

Phương trình tổng hợp M-Score của Beneish có dạng: M-Score = -4,84 + 0,920×DSRI + 0,528×GMI + 0,404×AQI + 0,892×SGI + 0,115×DEPI - 0,172×SGAI + 4,037×TATA + 0,0327×LVGI. Ngưỡng phân định (Cut-off) theo khuyến nghị của Beneish là -1,78. Nếu giá trị M-Score > -1,78, doanh nghiệp có rủi ro xảy ra gian lận báo cáo tài chính (được mã hóa bằng 1); nếu M-Score ≤ -1,78, doanh nghiệp không có khả năng xảy ra rủi ro gian lận (được mã hóa bằng 0). Xác suất gian lận được tính toán thông qua hàm phân phối chuẩn tích lũy NORMSDIST / NORMDIST trong Microsoft Excel.

Nguồn dữ liệu và quy trình xử lý:

  • Dữ liệu thu thập từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 400 doanh nghiệp niêm yết trong giai đoạn 2018–2021 trên cổng thông tin chuyên về chứng khoán Vietstock.
  • Dữ liệu được tính toán các chỉ tiêu bằng phần mềm Microsoft Excel 2016, sau đó chuyển sang phần mềm Stata 14 để thực hiện quy trình xử lý 5 bước: (1) Thống kê mô tả mức độ biến động của các biến; (2) Thiết lập ma trận tương quan để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến; (3) Hồi quy mô hình nhị phân Binary Logistic; (4) Kiểm tra độ phù hợp của mô hình bằng lệnh FITSTAT; (5) Phân tích hiệu ứng từng phần và tác động biên (marginal effects).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương này tổng kết các công trình nghiên cứu về gian lận báo cáo tài chính trong và ngoài nước. Về nghiên cứu quốc tế, tác giả phân tích mô hình M-Score ban đầu của Beneish (1999) đạt độ chính xác dự đoán 76%; nghiên cứu thuật toán Three Phase Cutting Plane của Burcu Dikmen và Guray (2005) đạt tỷ lệ phát hiện 81%; các cuộc khảo sát toàn diện của ACFE (1993, 2002, 2004, 2006, 2008), nhấn mạnh thiệt hại do gian lận gây ra cho kinh tế Mỹ năm 2004 lên tới 6% GDP (khoảng 600 tỷ USD); nghiên cứu của Charalambos T. Spathis (2002) sử dụng hồi quy logistic với 10 tỷ số tài chính đạt tỷ lệ chính xác trên 84%; Spathis, Kirkos và Manolopoulos (2007) áp dụng kỹ thuật khai thác dữ liệu (Data Mining) trên 27 tỷ số tài chính; mô hình F-Score của Dechow và cộng sự (2011) với ngưỡng cảnh báo F-Score > 1 (trong đó vụ Enron đạt 1,85); nghiên cứu của Steve Albrecht, Keith Howe và Marshall Romney (1980) khảo sát 212 trường hợp gian lận và xác lập danh mục 50 dấu hiệu đỏ; cùng các mô hình kế toán dồn tích của DeAngelo (1986) và mạng thần kinh nhân tạo của Fanning và Cogger (1998).

Đối với các nghiên cứu trong nước, chương 1 trình bày công trình của Nguyễn Trọng Hiếu (2020) về sai sót báo cáo tài chính giai đoạn 2012–2016 (mô hình dự báo đúng 73,7%, ghi nhận 34% công ty báo cáo chi phí cao hơn và 41% báo cáo chi phí thấp hơn kiểm toán); nghiên cứu khảo sát của Lê Thị Thu Hà (2019) xử lý 274 phiếu hỏi về kiểm soát gian lận; Hoàng Thị Thanh Huyền (2016) áp dụng F-Score trên 30 doanh nghiệp niêm yết tại HOSE giai đoạn 2012–2014; nghiên cứu tính điểm M-Score của Nguyễn Hữu Anh và Nguyễn Hải Linh (2016) trên 10 ngành niêm yết tại sàn TP.HCM giai đoạn 2013–2014; cùng các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Trúc Linh (2018), Cù Thị Ngọc Tú (2017) và Võ Minh Dương. Từ việc tổng hợp, tác giả chỉ ra 4 khoảng trống nghiên cứu chính tại Việt Nam: các nghiên cứu trước đây chủ yếu thực hiện trên cỡ mẫu nhỏ, thời gian quan sát ngắn (1–2 năm), kết quả chưa đồng nhất giữa các nhân tố quản trị và thiếu các công trình mô tả toàn diện thực trạng sai phạm trên tập mẫu lớn qua nhiều năm liên tiếp.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về đánh giá gian lận báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Chương 2 hoàn thiện khung lý luận về cấu trúc hệ thống báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính) và mối liên kết nội tại giữa các bảng số liệu. Tác giả phân tích chi tiết động cơ gian lận theo tam giác Cressey:

  • Áp lực/động cơ: Xuất phát từ suy giảm biên lợi nhuận, áp lực thị trường, dòng tiền kinh doanh âm liên tục, áp lực giữ vị thế niêm yết hoặc lợi ích cá nhân của người quản lý (Healy, 1985; Cheng và Warfield, 2005 chỉ ra thù lao và quyền chọn cổ phiếu thúc đẩy bóp méo số liệu; Graham, Harvey và Rajgopal, 2005 khảo sát 400 CFO cho thấy 73,5% chịu áp lực duy trì chỉ tiêu lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu theo dự báo của các nhà phân tích; Ducharme và cộng sự, 2002; Teoh và cộng sự, 1998 về động cơ dồn tích trước đợt chào bán cổ phiếu IPO; Bowen và cộng sự, 1995 về việc tránh vi phạm cam kết hợp đồng vay vốn).
  • Cơ hội: Hệ thống giám sát kém hiệu quả, xuất hiện nhiều giao dịch phức tạp cuối năm hoặc cấu trúc tổ chức bất ổn định.
  • Sự hợp lý hóa: Xuất phát từ thái độ cá nhân, mâu thuẫn giữa ban điều hành với kiểm toán viên độc lập.

Chương này cũng tổng hợp các dấu hiệu cảnh báo kế toán theo Schweser CFA (2018) và phân loại 5 thủ thuật gian lận phổ biến của doanh nghiệp niêm yết:

  1. Che giấu công nợ và chi phí: Không trích lập đầy đủ dự phòng, vốn hóa chi phí sai quy định, không ghi nhận hàng bán bị trả lại.
  2. Ghi nhận doanh thu không có thật: Tạo khách hàng ảo, xuất hóa đơn khống, ghi nhận nghiệp vụ khống trước khi kết thúc niên độ rồi hủy vào đầu niên độ sau.
  3. Ghi nhận sai niên độ kế toán (cắt niên độ): Dịch chuyển doanh thu, chi phí sang kỳ kế tiếp hoặc kéo về kỳ hiện tại để điều tiết lợi nhuận.
  4. Định giá sai tài sản: Không ghi giảm giá trị hàng tồn kho hư hỏng, bỏ qua trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi và tổn thất đầu tư.
  5. Không khai báo đầy đủ thông tin: Che giấu thông tin trong Thuyết minh báo cáo tài chính, đặc biệt là các giao dịch với các bên liên quan. Về trách nhiệm pháp lý theo VSA 240, Ban Giám đốc và Ban Quản trị chịu trách nhiệm chính trong việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ ngăn chặn gian lận; kiểm toán viên độc lập chịu trách nhiệm cung cấp sự đảm bảo hợp lý và bắt buộc duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp để phát hiện các sai sót trọng yếu.

Chương 3: Thực trạng gian lận trong BCTC tại các công ty niêm yết Việt Nam

Chương 3 tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam tính đến tháng 3/2023:

  • Toàn thị trường có 1.626 doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch trên cả hai sở giao dịch (342 doanh nghiệp tại HNX, 402 doanh nghiệp tại HOSE, 857 doanh nghiệp tại UPCoM). Quy mô số lượng doanh nghiệp cao hơn nhiều so với khu vực (gấp 2,6 lần Thái Lan), tuy nhiên quy mô vốn hóa chỉ bằng 1/3 Thái Lan và 1/150 Trung Quốc.
  • Vốn hóa thị trường đạt 7,3 triệu tỷ đồng (tương đương 82,15% GDP cả nước); riêng 3 sàn cổ phiếu đạt 5,48 triệu tỷ đồng (HOSE chiếm 4,25 triệu tỷ đồng, UPCoM đạt 969.000 tỷ đồng, HNX đạt 259.073 tỷ đồng); thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt 1,85 triệu tỷ đồng. Top 10 cổ phiếu vốn hóa lớn nhất chiếm 35% giá trị toàn thị trường (hơn 1,92 triệu tỷ đồng), dẫn đầu là Vietcombank (421.194 tỷ đồng), BIDV (226.116 tỷ đồng), VHM (215.848 tỷ đồng), VIC (197.000 tỷ đồng). Số tài khoản nhà đầu tư đạt 7,04 triệu tài khoản (chiếm khoảng 7% dân số), VN-Index đạt 1.064,64 điểm.

Chương này dẫn chứng và phân tích 4 vụ án gian lận tài chính lớn:

  • Vụ bê bối tại Công ty Cổ phần Thiết bị Y tế Việt Nhật (JVC) vào tháng 6/2015: Cổ phiếu rơi từ vùng 22.000 đồng/cổ phiếu xuống 7.000 đồng/cổ phiếu do hàng loạt giao dịch chui, tạm ứng, góp vốn liên kết thiết bị y tế không thông qua Hội đồng quản trị.
  • Vụ Công ty Cổ phần Dược phẩm Cửu Long (Dược Cửu Long) giai đoạn 2013–2014: Thực hiện các giao dịch chuyển tiền vòng lặp khép kín với các bên liên quan (An Tâm và Sài Gòn VPC); tại thời điểm kết thúc quý 1/2014, khoản phải thu khách hàng chiếm hơn 234 tỷ đồng trên tổng tài sản 621 tỷ đồng (chiếm hơn 1/3 tổng tài sản).
  • Vụ Tập đoàn Toshiba (Nhật Bản): Gian lận số liệu kế toán kéo dài 15 năm, riêng 6 năm từ 2008 gian lận lợi nhuận 170 tỷ Yên (tương đương 1,22 tỷ USD), dẫn đến giá cổ phiếu sụt giảm 23% sau khi bị điều tra năm 2015 và phải điều chỉnh giảm 152 tỷ Yên lợi nhuận.
  • Vụ Tập đoàn Năng lượng Enron (Mỹ): Thổi phồng thu nhập trong ít nhất 4 năm liên tiếp, sụp đổ và nộp đơn phá sản vào tháng 12/2001 với quy mô tài sản 63,4 tỷ USD (trước đó mô hình M-Score đã chỉ ra dấu hiệu rủi ro từ năm 1998).

Cuối chương, tác giả xây dựng phương pháp kiểm định trên mẫu 400 doanh nghiệp niêm yết Việt Nam và minh họa việc áp dụng mô hình M-Score cụ thể tại Công ty Cổ phần Nhựa An Phát Xanh (mã chứng khoán AAA) giai đoạn 2019–2021:

  • Năm 2019: M-Score > -1,78, có dấu hiệu rủi ro gian lận báo cáo tài chính (mã hóa = 1), là năm AAA có động lực và dấu hiệu bất thường rõ rệt nhất.
  • Năm 2020: M-Score < -1,78, không có rủi ro gian lận (mã hóa = 0).
  • Năm 2021: M-Score > -1,78, xuất hiện lại dấu hiệu rủi ro gian lận (mã hóa = 1).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương này thực hiện xử lý dữ liệu thực nghiệm thông qua các bước kiểm định trên phần mềm Stata 14:

  • Thống kê mô tả (Mục 4.1): Tổng hợp các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất và lớn nhất của 8 biến độc lập (DSRI, GMI, AQI, SGI, DEPI, SGAI, TATA, LVGI) và biến phụ thuộc M-Score trong giai đoạn 2018–2021.
  • Ma trận tương quan (Mục 4.2): Phân tích hệ số tương quan giữa các cặp biến độc lập để kiểm định nguy cơ đa cộng tuyến trước khi đưa vào hồi quy.
  • Hồi quy mô hình Logit (Mục 4.3): Ước lượng mô hình hồi quy Binary Logistic, đánh giá mức độ tác động và chiều hướng ảnh hưởng của từng chỉ số kế toán tới xác suất gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết.
  • Kiểm tra sự phù hợp của mô hình (Bảng 4.6): Sử dụng chỉ số kiểm định FITSTAT để khẳng định tính tương thích của mô hình hồi quy logistic với tập dữ liệu thực tế thu thập.
  • Phân tích hiệu ứng từng phần và tác động biên: Đo lường mức độ thay đổi xác suất gian lận báo cáo tài chính khi các chỉ số tài chính biến động một đơn vị.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương cuối tổng hợp các kết luận rút ra từ mô hình M-Score và đề xuất hệ thống giải pháp chia theo 4 nhóm chủ thể:

  1. Đối với các công ty niêm yết: Cần nâng cao tính tự giác tuân thủ chuẩn mực kế toán, củng cố ban kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ, giảm thiểu sự tập trung quyền lực của ban điều hành nhằm hạn chế việc can thiệp vào các ước tính kế toán.
  2. Đối với kiểm toán viên: Cần nâng cao tính hoài nghi nghề nghiệp theo Chuẩn mực VSA 240, chú trọng đánh giá các giao dịch bất thường cuối năm và các giao dịch với bên liên quan; chủ động áp dụng các công cụ định lượng như mô hình M-Score để sàng lọc sơ bộ trước khi thực hiện các thử nghiệm cơ bản.
  3. Đối với các nhà đầu tư: Cần nâng cao năng lực đọc hiểu Thuyết minh báo cáo tài chính, chú ý các dấu hiệu cảnh báo như khoản phải thu tăng trưởng vượt quá tốc độ tăng trưởng doanh thu, tỷ lệ lãi gộp biến động bất thường, dòng tiền hoạt động kinh doanh âm kéo dài, và tự ứng dụng chỉ số M-Score để đánh giá an toàn danh mục.
  4. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các Sở Giao dịch Chứng khoán, Cơ quan Thuế): Tăng cường quy chế công bố thông tin, siết chặt khâu thẩm định hồ sơ niêm yết mới, đẩy mạnh kiểm tra thuế và áp dụng chế tài xử phạt đủ sức răn đe đối với các hành vi cố tình bóp méo số liệu tài chính.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hoàn thành việc xây dựng tập dữ liệu định lượng và trích xuất các kết quả thực nghiệm từ báo cáo tài chính kiểm toán của 400 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2018–2021.

Các trường hợp nghiên cứu thực tiễn và số liệu được tổng hợp cụ thể trong công trình:

Vụ việc / Doanh nghiệp Thời gian phát hiện Dấu hiệu và số liệu sai lệch trong văn bản
Nhựa An Phát Xanh (AAA) 2019–2021 Điểm M-Score năm 2019 và 2021 đều vượt ngưỡng -1,78 (nguy cơ rủi ro cao, mã hóa 1); năm 2020 điểm M-Score dưới -1,78 (mã hóa 0).
Thiết bị Y tế Việt Nhật (JVC) Tháng 6/2015 Xuất hiện hàng loạt giao dịch chui chưa qua HĐQT phê duyệt; giá cổ phiếu giảm từ 22.000 đồng xuống 7.000 đồng/cổ phiếu.
Dược phẩm Cửu Long 2013–2014 Giao dịch khép kín với bên liên quan (An Tâm, Sài Gòn VPC); kết thúc quý 1/2014 nợ phải thu chiếm hơn 234 tỷ đồng trên tổng tài sản 621 tỷ đồng (>1/3 tổng tài sản).
Tập đoàn Toshiba 2008–2015 Gian lận lợi nhuận 170 tỷ Yên (1,22 tỷ USD) trong 6 năm; giá cổ phiếu giảm 23% sau khi điều tra năm 2015; giảm hồi tố 152 tỷ Yên lợi nhuận.
Tập đoàn Enron 1998–2001 Thổi phồng thu nhập trong ít nhất 4 năm; mô hình M-Score nhận diện nguy cơ từ 1998; phá sản ngày 02/12/2001 với quy mô tài sản 63,4 tỷ USD.

Đóng góp khoa học và thực tiễn tự nêu của đề tài:

  • Về mặt khoa học: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi gian lận và kế thừa mô hình M-Score của Beneish; bổ sung bằng chứng thực nghiệm quy mô 400 doanh nghiệp niêm yết trong chuỗi thời gian 4 năm (2018–2021), làm phong phú thêm khoảng trống nghiên cứu định lượng về phát hiện gian lận báo cáo tài chính tại Việt Nam.
  • Về mặt thực tiễn: Khóa luận tổng hợp các kỹ thuật "làm đẹp" số liệu kế toán phổ biến của các công ty niêm yết; minh chứng quy trình tính toán 8 biến số M-Score trên phần mềm Microsoft Excel (kết hợp hàm phân phối NORMDIST) và xử lý kiểm định hồi quy Binary Logistic trên phần mềm Stata 14. Kết quả này cung cấp công cụ nhận diện rủi ro hữu ích cho nhà đầu tư, kiểm toán viên và cơ quan quản lý thị trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận xác định các hạn chế chủ yếu gắn liền với phạm vi nghiên cứu thực nghiệm:

  • Khung mẫu nghiên cứu chỉ thu thập 400 doanh nghiệp niêm yết trong tổng số 1.626 công ty niêm yết và đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam tính đến tháng 3/2023; giai đoạn quan sát giới hạn trong 4 năm (2018–2021).
  • Việc phân loại rủi ro gian lận dựa hoàn toàn vào ngưỡng Cut-off định lượng M-Score = -1,78 của Beneish (vốn được xây dựng dựa trên thị trường tài chính phát triển của Hoa Kỳ), chưa điều chỉnh trọng số riêng biệt cho từng ngành nghề đặc thù hoặc thể chế kế toán tại Việt Nam.
  • Nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập qua website tài chính Vietstock; mô hình chưa tích hợp sâu các biến số phi tài chính (như đặc điểm cá nhân của ban giám đốc hay tính độc lập của ủy ban kiểm toán).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi ý từ khoảng trống nghiên cứu:

  • Mở rộng quy mô mẫu sang toàn bộ các doanh nghiệp trên cả 3 sàn (HOSE, HNX, UPCoM) và kéo dài chuỗi thời gian phân tích sang giai đoạn phục hồi kinh tế sau năm 2021.
  • Kết hợp mô hình M-Score với các mô hình định lượng khác như mô hình F-Score của Dechow (2011) hoặc các thuật toán khai phá dữ liệu (Data Mining), trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa khả năng dự báo sai lệch báo cáo tài chính tại thị trường Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật có giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán và Tài chính – Ngân hàng: Tham khảo phương pháp vận dụng mô hình định lượng M-Score vào phân tích tài chính doanh nghiệp; kỹ năng trích xuất chỉ tiêu kế toán, tính toán các biến số trên bảng tính Microsoft Excel và quy trình chạy hồi quy Binary Logistic trên Stata.
  • Kiểm toán viên độc lập và kiểm toán viên nội bộ: Tham khảo khung phân loại dấu hiệu bất thường theo Chuẩn mực kiểm toán VSA 240, danh mục 50 dấu hiệu đỏ của Albrecht và các dấu hiệu cảnh báo của CFA Schweser (2018) để áp dụng vào giai đoạn đánh giá rủi ro ban đầu khi lập kế hoạch kiểm toán.
  • Nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán: Tiếp cận một công cụ định lượng hỗ trợ sàng lọc rủi ro báo cáo tài chính của các mã cổ phiếu đang quan tâm, cảnh giác trước các hiện tượng tăng trưởng doanh thu ảo đi kèm gia tăng đột biến khoản phải thu hoặc suy giảm dòng tiền.

Câu hỏi thường gặp

1. Ngưỡng phân định (Cut-off) chuẩn trong mô hình Beneish M-Score được khóa luận sử dụng để đánh giá rủi ro gian lận là bao nhiêu?
Khóa luận áp dụng ngưỡng Cut-off chuẩn theo khuyến nghị của Beneish là -1,78. Nếu giá trị M-Score của một doanh nghiệp lớn hơn -1,78 (M-Score > -1,78), doanh nghiệp đó được phân loại là có rủi ro gian lận báo cáo tài chính và được mã hóa bằng 1. Ngược lại, nếu M-Score ≤ -1,78, doanh nghiệp được xác định là không có khả năng xảy ra rủi ro gian lận và được mã hóa bằng 0.

2. Tám biến số trong mô hình Beneish M-Score được phân chia thành những nhóm chỉ số nào?
Tám biến số được chia thành hai nhóm riêng biệt:

  • Nhóm nhận diện khả năng gian lận: gồm 4 chỉ số DSRI (phải thu khách hàng so với doanh thu), AQI (chất lượng tài sản), DEPI (tỷ lệ khấu hao), và TATA (biến dồn tích so với tổng tài sản).
  • Nhóm nhận diện động cơ gian lận: gồm 4 chỉ số GMI (tỷ lệ lãi gộp), SGI (tăng trưởng doanh thu), SGAI (chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp), và LVGI (đòn bẩy tài chính).

3. Kết quả tính toán mô hình M-Score đối với Công ty Cổ phần Nhựa An Phát Xanh (mã AAA) giai đoạn 2019–2021 được ghi nhận như thế nào?
Theo kết quả tính toán của tác giả: năm 2019, AAA có điểm M-Score > -1,78 nên được mã hóa là 1 (xuất hiện dấu hiệu và động cơ xảy ra rủi ro gian lận báo cáo tài chính lớn nhất); năm 2020, điểm M-Score < -1,78 nên được mã hóa là 0; đến năm 2021, M-Score lại có giá trị lớn hơn -1,78 nên tiếp tục được mã hóa là 1.

4. Khóa luận đã phân tích các vụ gian lận tài chính điển hình nào tại Việt Nam trong Chương 3?
Khóa luận phân tích hai vụ án gian lận điển hình trên thị trường chứng khoán Việt Nam:

  • Bê bối tại Công ty Cổ phần Thiết bị Y tế Việt Nhật (JVC) vào tháng 6/2015 liên quan đến các giao dịch chui, góp vốn thiết bị y tế không qua HĐQT, khiến cổ phiếu giảm từ 22.000 đồng xuống 7.000 đồng/cổ phiếu.
  • Sai phạm tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Cửu Long giai đoạn 2013–2014 với việc thực hiện các giao dịch khép kín lòng vòng với công ty liên quan, duy trì khoản phải thu khách hàng lớn bất thường chiếm trên 234 tỷ đồng trên tổng tài sản 621 tỷ đồng tại quý 1/2014 (chiếm hơn 1/3 tổng tài sản).

5. Theo số liệu của Hiệp hội Kiểm tra Gian lận Hoa Kỳ (ACFE, 2022) được khóa luận dẫn chứng, loại gian lận nào gây ra thiệt hại tài chính bình quân lớn nhất?
Báo cáo của ACFE (2022) chỉ ra rằng gian lận báo cáo tài chính là loại hình ít phổ biến nhất (chỉ chiếm 9% tổng số trường hợp được nghiên cứu), nhưng lại là hành vi gây tổn thất tài chính nặng nề nhất cho các tổ chức với mức thiệt hại trung bình lên tới 593.000 USD cho mỗi vụ việc, cao hơn nhiều so với tham ô (150.000 USD) và biển thủ tài sản (100.000 USD).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Hoa Trà My đã giải quyết một vấn đề cấp thiết về tính minh bạch của thông tin kế toán trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bằng việc ứng dụng mô hình định lượng M-Score của Beneish trên tập mẫu 400 công ty niêm yết trong giai đoạn 2018–2021 kết hợp các phần mềm Excel và Stata, công trình đã làm rõ mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài chính với xác suất xảy ra gian lận kế toán. Khóa luận cung cấp hệ thống giải pháp khuyến nghị đồng bộ cho 4 nhóm đối tượng: công ty niêm yết, kiểm toán viên, nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước, đóng góp tài liệu tham khảo thực chứng có giá trị cho lĩnh vực kế toán và kiểm toán tại Việt Nam.