Chương 1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương bốn: Thực trạng và kết quả nghiên cứu. Trình bày thực trạng và kết quả nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu từ mô hình sẽ được trình bày, đồng thời so sánh kết quả này với các giả thuyết nghiên cứu nhằm tìm ra các nhân tố thỏa mãn kỳ vọng của giả thuyết cũng như xác định mô hình nào là phù hợp nhất trong việc đo lường gian lận báo cáo tài chính hiện nay tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tiến hành kiểm định tính chính xác của mô hình đối với các doanh nghiệp niêm yết nằm ngoài mẫu nghiên cứu. Chương năm: Kết luận và khuyến nghị. Chương này và cũng là chương cuối cùng của nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu chính sẽ được tóm tắt lại và những đóng góp quan trọng từ kết quả nghiên cứu hướng đến các đối tượng khác nhau sẽ được liệt kê.
Chương này cũng chỉ ra những hạn chế trong nghiên cứu và khuyến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo. Trang 6 Chương 2. Cơ sở lý thuyết CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, các lý thuyết giải thích và nghiên cứu hành vi gian lận báo cáo tài chính sẽ được khảo sát. Bên cạnh đó, chương này cũng tóm tắt các nghiên cứu trước về gian lận báo cáo tài chính.
Bố cục trong chương này được trình bày theo ba phần: Định nghĩa về gian lận; Cơ sở lý thuyết; Tổng quan các nghiên cứu trước về gian lận báo cáo tài chính. Các phần vừa liệt kê như trên sẽ được trình bày cụ thể sau đây: 2.1 Định nghĩa về gian lận 2.1 Khái niệm gian lận Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gian lận. Nhìn chung, gian lận là hành vi không trung thực, dối trá, mánh khoé nhằm lừa gạt người khác (Viện Ngôn Ngữ Học, 2003). Mở rộng ra, gian lận là việc xuyên tạc sự thật, thực hiện những hành vi không được pháp luật quy định nhằm lừa gạt để thu được lợi ích nào đó.
Hiện nay, ba biểu hiện thường thấy của gian lận là: chiếm đoạt, lừa đảo và ăn cắp. Tương tự như vậy, theo Ủy ban quốc gia về gian lận báo cáo tài chính (National commission on Fraudulent Financial Reporting, 1987) thì gian lận báo cáo tài chính được định nghĩa là những hành vi cố ý hay bỏ sót, từ đó làm sai lệch trọng yếu trên báo cáo tài chính. Mới đây, theo chuẩn mực kiểm toán VSA 240, đoạn 11, ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC quy định rằng: “Gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, gây ảnh hưởng đến sự trung thực trên báo cáo tài chính”. Trang 7 Chương 2.
Cơ sở lý thuyết Theo chuẩn mực VSA 240, quyết định 143/2001/QĐ-BTC của Bộ Tài Chính thì hành vi gian lận thường được biểu hiện dưới các dạng sau: Xuyên tạc, làm giả chứng từ, tài liệu liên quan đến báo cáo tài chính; Sửa đổi chứng từ, tài liệu kế toán làm sai lệch báo cáo tài chính; Biển thủ tài sản; Che dấu hoặc cố ý bỏ sót các thông tin, tài liệu hoặc nghiệp vụ kinh tế làm sai lệch báo cáo tài chính; Ghi chép các nghiệp vụ kinh tế không đúng sự thật; Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sách tài chính; Cố ý tính toán sai về số học.4 Thông thường, hành vi gian lận phát sinh khi hội đủ các yếu tố sau: Cá nhân hay tổ chức cố ý trình bày sai một yếu tố hay sự kiện quan trọng; Việc trình bày thiếu trung thực sẽ làm cho người bị hại tin vào đó (người bị hại có thể là cá nhân hoặc tổ chức); 4 http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Ke-toan-Kiem-toan/Quyet-dinh-143-2001-QD-BTC-sau-chuan-muc-kiem- toan-Viet-Nam-dot-3-240-300-400-530-540-610-49397.aspx Trang 8 Chương 2. Cơ sở lý thuyết Người bị hại dựa vào và đưa ra các quyết định của mình trên cơ sở sự trình bày sai này; Người bị hại có thể chịu các khoản lỗ về tiền, tài sản. do việc dựa trên sự trình bày sai này. Tóm lại, hành vi gian lận có thể mang lại lợi ích cho cá nhân hoặc cho tổ chức.
Khi cá nhân thực hiện hành vi gian lận, lợi ích có thể là trực tiếp (nhận tiền hoặc tài sản), hay gián tiếp (tăng quyền lực, tiền thưởng). Khi tổ chức (thường là nhân viên hành động với tư cách là tổ chức) thực hiện gian lận thì lợi ích thu được thường là trực tiếp dưới hình thức thu nhập của công ty tăng lên.2 Đặc điểm của gian lận Theo chuẩn mực kiểm toán VSA 240, đoạn 2, ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC thì các sai sót trên báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc do nhầm lẫn. Để phân biệt giữa hành vi gian lận và nhầm lẫn, chúng ta cần phải xem xét hành vi dẫn đến sai sót trên báo cáo tài chính là cố ý hay không. Mặc dù gian lận là một khái niệm pháp lý rất rộng, nhưng để đạt được mục đích của các chuẩn mực kiểm toán, kiểm toán viên chỉ phải quan tâm đến những gian lận dẫn đến sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính.
Có hai loại sai sót do cố ý mà kiểm toán viên cần quan tâm là sai sót xuất phát từ việc lập báo cáo tài chính gian lận và sai sót do biển thủ tài sản. Mặc dù kiểm toán viên có thể có nghi ngờ hoặc trong một số ít trường hợp xác định được có gian lận xảy ra nhưng kiểm toán viên không được đưa ra các quyết định pháp lý về việc có gian lận thực sự hay là không (Chuẩn mực kiểm toán VSA 240, đoạn 3, ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC). Gian lận, dù là gian lận trong việc lập báo cáo tài chính hay gian lận bằng hình thức biển thủ tài sản, đều có liên quan đến động cơ hoặc áp lực phải thực hiện hành vi gian lận, một cơ hội rõ ràng để thực hiện điều đó và việc hợp lý hoá hành vi gian lận (Chuẩn mực VSA 240, phần III, đoạn A1, ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC). Chẳng hạn: 5 Nguồn từ bài: “Nhận diện gian lận báo cáo tài chính công ty cổ phần niêm yết trong các báo cáo kiểm toán”, tác giả Nguyễn Tuân, Nguyễn Thành Cường, Ngô Xuân Ban – Bộ môm kiểm toán, tại địa chỉ: http://www.net/ngoclt11227/tuan Trang 9 Chương 2.
Cơ sở lý thuyết Động cơ hoặc áp lực phải thực hiện hành vi lập báo cáo tài chính gian lận xẩy ra khi Ban Giám đốc phải chịu áp lực từ bên ngoài hoặc từ bên trong đơn vị, có thể là cần phải đạt được một mục tiêu về lợi nhuận hoặc kết quả tài chính như dự kiến (và có thể là không thực tế) nhất là trong trường hợp nếu Ban Giám đốc không đạt được các mục tiêu tài chính thì sẽ chịu hậu quả rất lớn. Tương tự, các cá nhân có thể có một động cơ thực hiện gian lận thông qua biển thủ tài sản (vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn); Cơ hội để thực hiện hành vi gian lận thường tồn tại khi một cá nhân cho rằng có thể khống chế kiểm soát nội bộ vì cá nhân đó có một vị trí đáng tin cậy hoặc biết rõ về các khiếm khuyết cụ thể của kiểm soát nội bộ; Các cá nhân có thể biện minh cho việc thực hiện hành vi gian lận. Một số cá nhân có thái độ, tính cách hoặc hệ thống các giá trị đạo đức cho phép họ thực hiện hành vi gian lận một cách cố ý. Tuy nhiên, ngay cả khi không có các điều kiện như vậy thì những cá nhân trung thực cũng có thể thực hiện hành vi gian lận khi ở trong môi trường có áp lực mạnh.
Gian lận trong việc lập báo cáo tài chính có liên quan đến các sai sót cố ý (cố ý bỏ sót số liệu hoặc thông tin thuyết minh của báo cáo tài chính) để lừa dối người sử dụng báo cáo tài chính (Chuẩn mực VSA 240, phần III, đoạn A2, ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC). Sai sót cố ý có thể xuất phát từ chủ định của Ban Giám đốc nhằm điều chỉnh kết quả kinh doanh, làm người sử dụng báo cáo tài chính hiểu sai về tình hình hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị được kiểm toán; Việc điều chỉnh kết quả kinh doanh có thể bắt đầu từ những hành vi nhỏ hoặc những điều chỉnh không thích hợp đối với các giả định và thay đổi các xét đoán của Ban Giám đốc; Áp lực và động cơ dẫn đến các hành vi nêu trên có thể tăng thêm mức độ ảnh hưởng và dẫn đến việc lập báo cáo tài chính gian lận. Đó là khi do áp lực phải đạt được các mục tiêu về thị trường hoặc mong muốn tối đa hóa tiền lương và thưởng dựa trên hiệu quả hoạt động, khi đó Ban Giám đốc cố ý tìm mọi cách lập báo cáo tài chính gian lận bằng cách tạo ra sai sót trọng yếu đối Trang 10 Chương 2. Cơ sở lý thuyết với báo cáo tài chính.
Trong một số trường hợp, Ban Giám đốc có thể tìm cách báo cáo giảm lợi nhuận nhằm làm giảm số thuế phải nộp hoặc báo cáo tăng lợi nhuận để việc vay vốn ngân hàng được thực hiện dễ dàng hơn. Thủ phạm của hành vi biển thủ tài sản dưới hình thức trộm cắp với giá trị tương đối nhỏ và không mang tính trọng yếu, thường là nhân viên trong đơn vị. Tuy nhiên, hành vi biển thủ tài sản cũng có thể do thành viên Ban Giám đốc thực hiện vì họ có điều kiện dễ dàng hơn, theo những cách thức khó phát hiện được. Hành vi biển thủ tài sản thường đi kèm với việc giả mạo chứng từ, tài liệu nhằm che giấu sự thật là các tài sản đó đã bị mất hoặc đã được thế chấp mà không được phép, và thường được biểu hiện theo nhiều dạng khác nhau (Chuẩn mực VSA 240, phần III, đoạn A5, ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC).