Chương 1: Nghiên cứu tổng quan Chương 2: Xây dựng mô hình mô phỏng hệ thống truyền lực Chương 3: Nghiên cứu giảm tải trọng động trong hệ thống truyền lực Kết luận. Những kết quả mới của luận văn: - Xây dựng được mô hình tính toán tải trọng động trong hệ thống truyền lực có kể đến sự trượt của ly hợp. - Nghiên cứu được ảnh hưởng của các yếu tố kết cấu và điều kiện khai thác đến tải trọng cực đại trong các khâu của HTTL. - Đề xuất được phương án giảm tải trọng động trong HTTL khi khởi hành ô tô tại chỗ.
Ý nghĩa khoa học của luận văn: - Xây dựng được phương pháp xác định tải trọng động trong HTTL ô tô tải thông dụng, làm cơ sở cho việc lựa chọn hợp lý các thông số khi tính toán, thiết kế HTTL ô tô tải tại Việt Nam. 13 - Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm cơ sở khoa học để thiết kế và tối ưu hóa HTTL của các ô tô tải, góp phần hoàn thiện quy trình thiết kế các bộ phận chính của HTTL. Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020 HỌC VIÊN Vũ Thế Hùng 34 Hình 2. Chuyển đổi mô hình cơ học thành mô hình động lực Trên hình 2.5 là một ví dụ về việc chuyển đổi từ mô hình cơ học sang sơ đồ động lực.
Giả sử các khối lượng 1 và 2 bị xoắn đi các góc tương ứng là1 và 2 so với vị trí ban đầu (khi mômen xoắn bằng 0) thì động năng của hệ thống được tính bằng tổng động năng của các khối lượng: 1 1 E k E k1 E k 2 I '1 '12 I 2 ' 2'2 2 2 Thế năng của hệ thống bằng tổng thế năng của hai phần tử: 21 22 E p E p1 E p 2 2e1 2e2 Trong đó :1, 2 là biến dạng góc của các trục 1 và 2. Các mômen gây lên xoắn các trục được tính như sau: 1 M1 ;M2 2 e1 e2 Nếu gọi tỉ số truyền của cặp bánh răng là i, thì: M2=1. Khi đó: 2 e iM 1 ; M 1 2 ; 1 2 ; 2 i1 2 e2 ie2 e1 ie2 e1 Mặt khác, nếu ký hiệu các góc quay của các bánh răng là 1 và 2, thì : 1 2 i 1 1 1 ; 2 2 2 ; 1 i 2 1 i 2. 35 Vậy ta có biểu thức thu được là: 1 i 2 1 i 2 1 ( 1 i 2 ) 2 1 e1 ; 2 ie2 ; Ep e1 i 2 e2 e1 i 2 e2 2 e1 i 2 e2 Nếu thay các toạ độ 1 và 2 bằng các toạ độ tương ứng là 1 và 2với điều kiện là :1=1; 2=i2, và gọi độ đàn hồi tổng của các chi tiết e12=e1+i2e2 thì biểu thức thế năng được đơn giản hoá như sau: 1 (1 2 ) 2 Ep ; 2 e12 Trong hệ toạ độ mới biểu thức tính động năng có dạng: 1 1 I '2 &2 1 &2 1 &2 Ek I '1 & 1 2 1 I12 I 22 2 2 i2 2 2 Trong đó: I '1 I 1 I '1 ; I 2 i12 Các công thức thu gọn trên đây cũng đúng với các dạng sơ đồ cơ học khác.
Trong trường hợp tổng quát, các thông số của sơ đồ động lực được tính từ các thông số của mô hình cơ học theo các công thức như sau: I 'i Ii ; ei ei' ii2 (2.6) ii2 Trong đó: I’i, e’i – các thông số của mô hình cơ học. Ii, ei – các thông số của sơ đồ động lực của hệ thống. Trong hệ thống truyền lực có một số bộ phận có khả năng phân chia dòng công suất, chẳng hạn như các hộp số hành tinh, bộ vi sai trong các cầu chủ động. Đặc điểm của các cơ cấu này là dòng công suất có thể được truyền theo nhiều đường khác nhau, nhưng trong mọi trường hợp tất cả các trục của cơ cấu đều phải chịu tải.
Do vậy ở đây người ta dùng tới khái niệm độ đàn hồi chung của hệ thống. Trong trường hợp tổng quát độ đàn hồi chung của hệ thống được xác định theo công thức sau: 36 n e1, 2,.7) i Trong đó : ei : Độ đàn hồi của trục nói với khối lượng thứ i ; ii : Tỉ số truyền của cơ cấu tính từ khối lượng quy dẫn tới khối lượng thứ i trong điều kiện tất cả các khối lượng khác đều đứng yên. Mômen quán tính của các chi tiết trong các cơ cấu có phân chia dòng công suất cũng được tính theo công thức. Các dao động xoắn trong hệ thống truyền lực có mối liên hệ chặt chẽ với chuyển động tịnh tiến của khối lượng treo và khối lượng không được treo.
Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu chế độ tải trọng trong hệ thống truyền lực cần phải tính đến các khối lượng chuyển động tịnh tiến. Thông thường, các khối lượng chuyển động tịnh tiến được thể hiện trên sơ đồ tính toán bằng một bánh đà tương đương, với điều kiện là động năng của bánh đà này bằng động năng của các khối lượng chuyển động tịnh tiến. Nếu gọi ma là khối lượng chuyển động tịnh tiến của ôtô; Ia là momen quán tính của bánh đà tương đương trên sơ đồ tính toán: v là vận tốc của khối lượng chuyển động tịnh tiến và là vận tốc góc của bánh đà tương đương, ta có: ma v 2 I a 2 2 v ; I a ma (2.8) 2 2 Đối với chuyển động tịnh tiến của ôtô v=r0. Trong đó r0 là bán kính lăn của bánh xe trong điều kiện lăn không trượt.
Khi đó: Ia=ma.9) Bánh đà tương đương với khối lượng chuyển động tịnh tiến của xe được nối với bánh xe bằng khâu đàn hồi là lốp, có độ đàn hồi là eL. Việc truyền mômen từ bánh xe tới các khối lượng chuyển động tịnh tiến được thực hiện nhờ thành phần phản lực của mặt đường tác dụng lên bánh xe theo phương dọc. Thành phần lực này bị hạn chế bởi khả năng bám của bánh xe lên mặt đường. 37 Trên các sơ đồ tính toán bánh xe và các khối lượng chuyển động tịnh tiến được thể hiện bằng hai bánh đà nối với nhau bởi khâu đàn hồi tương ứng với độ đàn hồi tiếp tuyến của lốp.
Trong khâu nối này có bộ truyền ma sát với nhiệm vụ hạn chế momen truyền không quá momen bám của bánh xe đối với mặt đường.10) Trong đó: - là hệ số bám của bánh xe đối với mặt đường. - Rz thành phần phản lực thẳng đứng của mặt đường tác dụng lên bánh xe. Nếu trong quá trình tính toán có kể đến thất thoát năng lượng do biến dạng theo phương tiếp tuyến của lốp thì phải đưa vào sơ đồ bộ giảm chấn. Các momen xoắn quy đổi tác dụng lên các phần tử của hệ thống động lực của ôtô được xác định từ điều kiện cân bằng công thực hiện bởi các momen trong mô hình cơ học và các mômmen tương ứng trong sơ đồ quy dẫn và tính theo công thức: M' M (2.11) i Nếu cần tính tới các lực cản từ bánh xe thì mômen cản phải được đặt vào bánh đà tương đương của bánh xe.
Mô men cản mô phỏng sức cản của không khí và lực cản lên dốc được đặt vào bánh đà tương đương của khối lượng chuyển động tịnh tiến của ôtô. Các hệ số cản không đàn hồi của hệ thống được xác định băng cách cân bằng các hàm phân tán năng lượng trong mô hình cơ học và trọng hệ thống quy dẫn: k 2 k ' ' 2 ; (2.3 Xây dựng mô hình tính toán Sơ đồ quy dẫn của ôtô thường có rất nhiều các khối lượng và các khâu đàn hồi. Việc xác định các đặc tính động lực của hệ thống như vậy thường gặp khó khăn nhất định. Hơn nữa, việc tính toán theo các sơ đồ đơn giản hoá không gây 38 nên những sai số lớn.
Do vậy, trong thực tế người ta thường đơn giản hoá các sơ đồ tính toán bằng cách ghép các khối lượng quán tính và các khâu đàn hồi. Mức độ đơn giản hoá có thể khác nhau tuỳ theo tính chất của bài toán và quan trọng hơn cả miền tần số quan tâm. Lý thuyết dao động đã khẳng định, sai số tính toán không vượt quá 5% nếu tần số cao nhất của dao động riêng của hệ thống quy dẫn lớn hơn so với tần số cao nhất của các dao động đang xét không qua bốn lần. Có nhiều phương pháp đơn giản hoá hệ thống động lực.
Thông dụng hơn cả là phương pháp hệ thống thành phần, nó cho phép có được sơ đồ tính toán một cách tương đối đơn giản với độ chính xác mong muốn. Để đơn giản hoá sơ đồ động lực của hệ thống, người ta chia nó thành các hệ thống tối giản (còn gọi là các hệ thống thành phần) gồm một hoặc hai khối lượng như thể hiện trên hình 2. Mỗi hệ thống thành phần được đặc trưng bởi một tần số dao động riêng. Bình phương của tần số dao động riêng của hệ thống tối giản thứ k được xác định theo công thức: 1 k2 eqk I qk Đối với hệ thống thành phần hai khối lượng: I k I k ,k 1 eqk ek ; I qk I k I k ,k 1 39 Hình 2.
Các bước đơn giản hoá hệ thống động lực a.Hệ thống ban đầu; b. phân tích hệ thống ban đầu thành hệ thành phần hai khối lượng; c.Phân tích hệ thống ban đầu thành các hệ thành phần một khối lượng; d. Biến đổi các hệ thành phần tần số cao; e. Hệ thống động lực đã đơn giản hoá.
Nếu hệ thống được phân chia thành các hệ thống thành phần một khối lượng, thì độ đàn hồi và momen quán tính được xác định theo công thức: 40 ek 1ek ,k 1 eqk ; I qk I k ek 1,k ek ,k 1 Các hệ thống thành phần có tần số dao động riêng cao hơn nhiều so với giá trị cực đại của miền tần số đang xét được thay bằng các hệ thống tương đương bằng cách chia đôi một khối khối lượng và hợp nhất các khâu đàn hồi bên trái và bên phải (xem hình 2.Một hệ hai khối lượng có thể chuyển thành hệ một khối lượng tương đương bằng cách ghép hai khối lượng với nhau và tách khâu đàn hồi.6 còn thể hiện các công thức tính các thông số của hệ thống tương đương.