Chương 1: Cơ sở lý luận – thực tiễn của vấn đề báo chí giám sát, PBXH (làm rõ khái niệm giám sát, PBXH; vai trò giám sát và PBXH của báo chí; nguyên tắc, cách thức báo chí giám sát và PBXH; các điều kiện để báo chí làm tốt chức năng giám sát và PBXH; tiêu chí đánh giá hiệu quả giám sát và PBXH của báo chí…) Chương 2: Thực trạng báo chí giám sát, PBXH (cách thức, nội dung giám sát và PBXH trên từng tờ báo; rút ra những thành công và hạn chế…) Chương 3: Một số khuyến nghị để nâng cao hiệu quả giám sát và PBXH của báo chí (về nhận thức, về điều kiện, về kỹ năng và phương pháp.) 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ BÁO CHÍ GIÁM SÁT, PBXH 1. Khái niệm giám sát và PBXH 1. Khái niệm giám sát Bộ Công cụ quản lý và giám sát du lịch cộng đồng của Mạng lưới du lịch bền vững vì người nghèo SNV Việt Nam và Đại học tổng hợp Hawoai (Mỹ) – trường đào tạo quản lý du lịch định nghĩa: “Giám sát là quá trình đo lường thường xuyên một thứ gì đó, thường là thông qua sử dụng các chỉ số để hiểu rõ hơn tình hình hiện tại cũng như một phần xu hướng trong quá trình thực hiện”. Cách định nghĩa này của Bộ Công cụ quản lý và giám sát du lịch cộng đồng là hiểu theo nghĩa đen của từ giám sát và giải thích nó ở nghĩa thông thường nhất.
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, Nxb Đà Nẵng, giám sát là “theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”. Điều đó có nghĩa, giám sát bao gồm hai quá trình theo dõi và kiểm tra. Cũng theo Từ điển này, theo dõi là chú ý theo sát từng hoạt động, từng diễn biến để biết rõ hoặc có sự ứng phó, xử lý kịp thời. Theo dõi là một công việc chuyên chú, miệt mài, vừa chuyên sâu, có nghề, vừa bao quát diện rộng vừa chăm chú trọng tâm.
Còn kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét. Kiểm tra không tiến hành thường xuyên mà có thời điểm, trọng điểm với chủ đích cụ thể. Như vậy, giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm cho hoạt động được thực hiện đúng mục đích và đạt hiệu quả tốt nhất trong điều kiện có thể, theo mục tiêu, chương trình, kế hoạch đã đề ra. Giám sát phải được tiến hành bởi lực lượng độc lập, khác với chủ thể đang tiến hành hoạt động được giám sát, giám sát có chuyên môn, hiểu biết… mới bảo đảm tính khách quan và hiệu quả.
Cách cắt nghĩa này mở rộng và bao 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quát hơn so với định nghĩa của Bộ Công cụ quản lý và giám sát du lịch cộng đồng, nhưng tinh thần chung vẫn không có sự thay đổi nhiều. Còn trong cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng”, giám sát được hiểu là “sự theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị - xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với tổ chức, cá nhân có những hành vi sai trái”. Qua những tìm hiểu và tổng hợp trên, có thể tạm hiểu khái niệm giám sát trên những khía cạnh: - Giám sát là hành vi độc lập, từ bên ngoài. - Giám sát là hoạt động theo dõi, quan sát, xem xét, nhận định về việc làm của đối tượng chịu sự giám sát.
- Mục đích của giám sát là xem xét việc làm của đối tượng bị giám sát có đúng những quy định, quy chế, chuẩn mực đã đặt ra hay không. Qua đó phát hiện những khiếm khuyết trong tổ chức và hoạt động của đối tượng bị giám sát để có những kiến nghị và biện pháp can thiệp, khắc phục kịp thời nhằm hướng hoạt động của đối tượng đi đúng hướng. Khái niệm PBXH 1. Khái niệm phản biện Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 3: “Phản biện là nhận xét và đánh giá về một công trình khoa học (luận án, luận văn, khóa luận hay kết quả nghiên cứu khoa học của một đề tài, một công trình nghiên cứu…).
Người (hay cơ quan) phản biện nhận định về tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài, nội dung và hình thức thể hiện của công trình khoa học, phương pháp nghiên cứu, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kết luận, đóng góp, hạn chế… Cuối cùng đánh giá chung là đạt hay không đạt những yêu cầu đề ra, xếp loại…”. Đây là một khái niệm được đưa ra theo đúng nghĩa đen của từ phản biện trên một phương diện rất cụ thể và được giải thích theo một nghĩa thông thường nhất. Theo nghĩa Hán - Việt, phản có nghĩa là nghĩ, xét lại1; biện là phân tích. Nếu gắn phản với biện có nghĩa là xét các sự vật rồi phân định xấu, tốt, nó gần nghĩa với tranh biện, biện bác.
Theo nghĩa trên, có thể hiểu phản biện là đặt lại, xét lại hoặc tự xét lại một sự việc, một vấn đề trên cơ sở lập luận, phân tích khách quan, khoa học, có sức thuyết phục nhằm phát hiện hoặc đưa các sự việc, vấn đề trở về đúng giá trị của nó.TS Nguyễn Văn Dững, Trưởng khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền: “Phản biện là thuật ngữ được dùng trước hết trong hoạt động khoa học – phản biện khoa học, tức là đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra trước hội đồng khoa học. Theo đó, phản biện có nhiệm vụ khẳng định những kết quả đạt được, những thành công nổi trội của công trình; đồng thời nêu ra những hạn chế, khiếm khuyết để tiếp tục hoàn thiện; và cuối cùng khẳng định rằng công trình đó có đạt được những tiêu chí khoa học cần thiết không. Như vậy, phản biện khác với phản bác. Phản bác là dùng lý lẽ và lập luận để bác bỏ ý kiến hay công trình của người khác”2.
Phản biện có nội hàm rộng hơn so với phản bác. Trong quá trình phản biện có thể đi đến phản bác, nhưng phản biện không chỉ là để phản bác mà còn đi đến bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh và khẳng định cái đúng, cái hay, ưu điểm trong những vấn đề được phản biện mà tác giả của nó nhiều khi chưa tự thấy rõ. Do đó, phản biện với ý nghĩa đúng đắn và toàn diện, kể cả phải sử dụng đến phương án phản bác thì vẫn mang động cơ xây dựng. 1 Theo Hán-Việt, chữ phản gồm có 5 nghĩa: tráo, đối lập với chữ chính; trả lại, trở về; nghĩ, xét lại; trở, quay; trái lại, phản đối, trái lại không chịu.
2 Cơ sở lý luận báo chí [tr.193] 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phản biện là ý kiến độc lập của một người hay một tổ chức nào đó, nó luôn mang tính chủ quan. Cái hay của phản biện là tạo điều kiện cho ý kiến khác có thể được cất lên, nhằm tạo ra nhiều khả năng tham khảo và lựa chọn hơn cho những người có quyền quyết định. Ý kiến phản biện chưa chắc đã đúng, nhưng xã hội không thể phát triển, không thể có dân chủ nếu sự PBXH bị cản trở, vì phản biện là sự tranh luận có chất lượng khoa học để tìm ra cái đúng chứ không phải là sự cãi vã nhằm phê phán cái sai. Từ những cách quan niệm trên, theo tác giả, phản biện có một số đặc điểm sau: - Phản biện là biểu hiện suy nghĩ, nhận thức, thái độ, hành động của con người trong các mối quan hệ với bản thân, với tự nhiên và với xã hội.
- Phản biện là một hoạt động khoa học, được thực hiện theo trình tự: chuẩn bị phản biện, tiến hành phản biện và ghi nhận kết quả phản biện. - Phản biện là đi đến cùng của vấn đề nhằm đi đến thống nhất một quyết nghị về giá trị những nội dung được nghiên cứu và giá trị ứng dụng của những nghiên cứu đó vào hoạt động thực tiễn trên cơ sở phân tích, chỉ rõ những khiếm khuyết, hạn chế của vấn đề một cách khoa học. Từ đó, tác giả tổng hợp và đưa ra khái niệm: phản biện là một hoạt động khoa học, đồng thời là phương pháp khoa học cần thiết để con người sử dụng nhằm thể hiện vai trò làm chủ của mình đối với bản thân, tự nhiên và xã hội. Trình độ làm chủ đó được biểu hiện qua nội dung vấn đề được nêu, phương pháp tranh luận vấn đề và cách thức tổ chức tranh luận để đi đến quyết nghị về nhận thức và ứng dụng vấn đề đó trong thực tiễn.
PBXH là gì? Khái niệm phản biện từ chỗ ban đầu dùng để nhận xét, đánh giá chất lượng một công trình khoa học đã dần mở rộng ra lĩnh vực chính trị - xã hội. Khái niệm PBXH đã được khá nhiều tác giả nghiên cứu và phân tích, nhưng trên thực tế còn có những ý kiến, cách hiểu khác nhau xuất phát từ những góc 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhìn khác nhau. Thời gian gần đây, khi PBXH được nêu ra và thu hút sự quan tâm rộng rãi của dư luận thì đã xuất hiện nhiều sự giải thích nội hàm của khái niệm này như: - PBXH là đưa ra các lập luận, phân tích nhằm phát hiện, chứng minh, khẳng định, bổ sung hoặc bác bỏ một đề án (phương án, dự án) xã hội đã được hình thành và công bố trước đó3. - Phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hóa, chính trị, làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn và gần gũi với đời sống con người hơn4.
- Phản biện là hoạt động cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá tính khả thi và các kiến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án đối với mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban đầu hoặc thực trạng đặt ra5. - PBXH là sự phản biện nói chung, nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan.