Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO CAMELS 1.1 Khái quát về hoạt động thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng 1.1 Vai trò và chức năng hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng Để làm tốt chức năng quản lý, Nhà nước phải sử dụng các công cụ của mình trên các lĩnh vực, trong đó có thanh tra là một công cụ đắc lực. Thanh tra là một phạm trù lịch sử, nó gắn liền với Nhà nước và là công cụ phục vụ cho giai cấp thống trị xã hội, lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh điều đó. Tuy tên gọi và hình thức tổ chức có thể khác nhau, nhưng thanh tra đều là công cụ để nhà nước kiểm tra, kiểm soát các hoạt động trong hoạt động quản lý kinh tế xã hội. Về nguyên tắc hoạt động thanh tra chỉ tuân theo pháp luật, bảo đảm chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời.
Mặt khác, hoạt động thanh tra phải gắn bó một cách hữu cơ với các cơ quan quản lý Nhà nước; bởi vì, nếu trong công tác thanh tra, cơ quan quản lý đứng ngoài cuộc thì hiệu lực thanh tra không thể có được. Đồng thời, thông qua hoạt động thanh tra còn có tác dụng giúp cơ quan quản lý kiểm tra tính đúng đắn của các quyết định quản lý, góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách, khắc phục những sơ hở yếu kém trong quản lý, giữ vững kỷ cương pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước và các quyền lợi hợp pháp của công dân.2 Sự cần thiết phải thanh tra, giám sát hoạt động của Ngân hàng thương mại Hoạt động ngân hàng là một hoạt động có tính đặc thù khá cao, vì vậy cần có sự giám sát khắt khắt khe vì: 5 Thứ nhất, ngân hàng là nơi nhận tiền gửi của đại bộ phận dân chúng, nếu bị rủi ro mất vốn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ và có thể dẫn đến đổ vỡ của cả hệ thống ngân hàng. Vì vậy, các cơ quan quản lý, mà trực tiếp là NHTW cần phải có trách nhiệm giám sát thường xuyên đối với hoạt động của các ngân hàng nhằm tăng cường lòng tin của người gửi tiền đối với hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Thứ hai, giám sát thường xuyên của NHTW còn là một hoạt động nhằm đảm bảo cho các NHTM có các hoạt động kinh doanh lành mạnh, an toàn, ít rủi ro và tránh được sự đổ vỡ.
Tại Việt Nam, Cơ quan TTGSNH được tổ chức thành hệ thống thuộc NHNN, thực hiện chức năng thanh tra hành chính và chức năng thanh tra, giám sát chuyên ngành ngân hàng trong phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo qui định của pháp luật. Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng ở Việt Nam cũng không nằm ngoài mục tiêu chung là nhằm góp phần bảo đảm an toàn hệ thống các TCTD, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền đồng thời phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng.3 Đối tượng thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng 1.1 Đối tượng của Thanh tra ngân hàng - Cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của NHNN; - Các TCTD hoạt động tại Việt Nam; 6 - Hoạt động ngân hàng của các tổ chức không phải là TCTD được NHNN cho phép; - Tổ chức tài chính quy mô nhỏ được NHNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động; - Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam trong việc thực hiện các qui định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN. Trường hợp Điều ước quốc tế mà cước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng Điều ước quốc tế đó.2 Đối tượng trong giám sát hoạt động ngân hàng - Các TCTD; - Hoạt động ngân hàng của các tổ chức không phải là TCTD được NHNN cho phép; - Tổ chức tài chính qui mô nhỏ được NHNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động; Như vậy đối tượng giám sát về hoạt động ngân hàng chỉ trừ hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác được NHNN cho phép.2 Nội dung hoạt động thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng theo CAMELS 1.1 Khái niệm về giám sát từ xa Phương thức giám sát từ xa là một trong hai phương thức của hoạt động của cơ quan Thanh tra ngân hàng được thực hiện ở hầu hết ở các nước trên thế giới. 7 Giám sát từ xa còn gọi là thanh tra trên báo cáo là quá trình Thanh tra ngân hàng tổ chức thu thập, xử lý số liệu tiến hành phân tích, đánh giá tình hình của NHTM trên cơ sở báo cáo tài chính, báo cáo thống kê gửi đến Thanh tra ngân hàng theo qui định và các nguồn thông tin khác; từ đó lập báo cáo, cảnh báo cho các NHTM những vấn đề cần thiết hoặc kiến nghị biện pháp khắc phục kịp thời.2 Sự cần thiết phải áp dụng CAMELS để giám sát đối với các tổ chức tín dụng CAMELS là phương pháp giám sát khá toàn diện những hoạt động chủ yếu của NHTM hiện được sử dụng ở hầu hết các nước trên thế giới; CAMELS là công cụ quan trọng, theo đó tất cả các nhà giám sát ngân hàng có thể sử dụng một hệ thống xếp hạng chuẩn để đánh giá tình trạng tài chính của một ngân hàng; Với một hệ thống xếp hạng rõ ràng, giúp cho mọi người, từ người đứng đầu NHTW đến những nhân viên mới nhất của NHTW cũng có thể nhanh chóng hiểu được tình trạng tài chính của một ngân hàng bằng cách rà soát kết quả xếp hạng ngân hàng đó; CAMELS đưa ra một cái nhìn toàn diện về tất cả các khía cạnh tài chính quan trọng đối với khả năng thanh toán của ngân hàng và cho biết mức độ rủi ro tại bất kỳ ngân hàng nào; CAMELS giúp cho nhà quản lý, giám sát ngân hàng kiến nghị, đề xuất biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro, vi phạm pháp luật để đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và thực hiện đúng, đầy đủ các chính sách, qui định của pháp luật.
8 Ngoài ra giám sát theo CAMELS còn giúp hướng dẫn hoạt động cần giám sát theo mức độ tăng dần đối với những ngân hàng bị xếp hạng thấp về tổng thể cần có biện pháp khắc phục.3 Mục tiêu giám sát từ xa hoạt động của các Ngân hàng thương mại Giám sát việc các Ngân hàng có đảm bảo an toàn trong hoạt động hay không? từ đó giúp các Ngân hàng giữ uy tín với khách hàng, đây là tài sản quý nhất trong kinh doanh ngân hàng. Giám sát việc Ngân hàng có thực hiện nghiêm túc luật pháp và quy chế ngân hàng hay không? trong đó, quan trọng nhất là các quy chế quản lý vĩ mô và các công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. Giám sát việc các ngân hàng kinh doanh có hiệu quả hay không? bởi vì, đã kinh doanh là phải có lãi, nếu bị thua lỗ dẫn đến việc cổ đông không những không được hưởng quyền lợi mà còn bị hụt vốn, ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh. Nếu lỗ nặng và kéo dài sẽ dẫn đến sự sụp đổ ngân hàng.4 Nội dung hoạt động của giám sát từ xa theo CAMELS Giám sát từ xa theo CAMELS chứa đựng đầy đủ những nội dung cần thiết để tiến hành đánh giá, xếp hạng các ngân hàng.
Các thành phần của CAMELS là: C (Capital): Vốn; A (Assets): Chất lượng Tài sản có; M (Management): Chất lượng quản lý và hoạt động; E (Earnings): Thu nhập; L (Liquidity): Hoạt động quản lý thanh khoản; S (Sensitivity): Hoạt động quản lý độ nhạy. 9 Cụ thể: a- Mức đảm bảo vốn (C): Vốn ở đây được hiểu theo một nghĩa rộng hơn không chỉ đơn thuần là vốn tự có của ngân hàng. Vốn tự có của một ngân hàng chỉ là thành phần được đưa ra đầu tiên để giám sát sự đủ vốn của ngân hàng đó. Một ngân hàng hoạt động trong môi trường kinh doanh bình đẳng, có đủ vốn là một yêu cầu bắt buộc đông thời cũng là một lợi thế.
Một ngân hàng cần duy trì một mức vốn đảm bảo chống đỡ với các loại rủi ro đặc trưng của ngân hàng và khả năng quản lý để xác định, đo lường, kiểm soát và điều chỉnh những rủi ro này. Các loại hình và mức độ rủi ro tác động đến hoạt động của ngân hàng sẽ quyết định đến mức vốn cần duy trì thêm trên mức vốn tối thiểu theo qui định để từ đó có thể đề phòng những hậu quả xấu mà những rủi ro này có thể có đối với mức vốn của ngân hàng. Mức đảm bảo vốn được xếp hạng dựa trên những yếu tố đánh giá sau: - Mức vốn, chất lượng vốn và khả năng tài chính tổng thể của ngân hàng; - Khả năng quản lý để có thể xác định những nhu cầu cho nguồn vốn bổ sung; - Bản chất, xu hướng và số lượng các tài sản có vấn đề, mức độ đảm bảo dự phòng rủi ro cho các khoản mất nợ và các quỹ dự phòng khác; - Bảng tổng hợp cân đối tài sản bao gồm nội dung và số lượng của các tàI sản vô hình, rủi ro thị trường, rủi ro tập trung và những rủi ro có liên quan đến các hoạt động không mang tính truyền thống của ngân hàng; - Các rủi ro tiềm ẩn đối với hoạt động ngoại bảng của ngân hàng; - Chất lượng và mức thu nhập, sự hợp lý của mức cổ tức; 10 - Khả năng tiếp cận với thị trường vốn và các nguồn vốn khác bao gồm cả sự hỗ trợ vốn của các cổ đông hiện tại và cổ đông triển vọng trong tương lai. b- Chất lượng Tài sản có (A): Tài sản có của ngân hàng được xem là có chất lượng, khi ngân hàng quản lý được rủi ro, tránh sự tập trung tín dụng hoặc đầu tư, tỷ lệ nợ bị phân loại trong tổng dư nợ ở mức thấp.