Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1.
Khái quát về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1. Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập vào ngày 18/11/1930. Trải qua các thời kỳ cách mạng với những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã không ngừng phát triển và trưởng thành, đóng góp to lớn vào những thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Điều 9, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 nêu rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Điều này xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, xuất phát từ thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về Nhân dân. Đây còn là vấn đề lịch sử, từ khi có Đảng là có Mặt trận.
Sau khi giành được chính quyền, Đảng, Nhà nước, Mặt trận là 8 những bộ phận hợp thành hệ thống chính trị. Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; đều có chung mục đích là phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận là mối quan hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau, vì mục tiêu chung. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở quần chúng của Đảng, góp phần phát huy sức mạnh bộ máy tổ chức Đảng, tăng cường mối liên hệ chặt chẽ giữa Đảng và Nhân dân.
Mặt trận phối hợp hành động của các tổ chức thành viên thực hiện tốt chủ trương, nghị quyết của Đảng; vận động Nhân dân phát huy tính tích cực chính trị trong xây dựng và bảo vệ Đảng; giám sát hoạt động của cấp ủy Đảng và đảng viên; góp phần xây dựng các chủ trương, nghị quyết của Đảng, đảm bảo tính đúng đắn, hiệu quả thực tiễn trong chủ trương, chính sách của Đảng thông qua hoạt động phản biện. Quan hệ giữa Mặt trận với chính quyền là quan hệ hợp tác bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, phối hợp trong hoạt động. Sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và Nhà nước là một tất yếu và xuất phát từ nhu cầu tự thân của cả Mặt trận lẫn Nhà nước. Đối với Nhà nước, Mặt trận tham gia xây dựng, giám sát và bảo vệ Nhà nước, góp phần phát huy sức mạnh tổ chức và hoạt động của Nhà nước: - Vận động, tổ chức Nhân dân thực hiện tốt quyền làm chủ của mình, tham gia xây dựng bộ máy nhà nước: bầu ra cơ quan dân cử; tổ chức hiệp thương với các tổ chức thành viên, giới thiệu những người đủ tiêu chuẩn làm hội thẩm nhân dân của tòa án nhân dân các cấp; giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức Nhà nước.
- Tham gia vào hoạt động hành pháp của Nhà nước; phát huy sức mạnh của hệ thống các cơ quan quản lý hành chính; tham gia xây dựng pháp luật, chính sách, kế hoạch của Nhà nước: tổ chức tiếp xúc, lấy ý kiến nhân dân 9 tham gia xây dựng Hiến pháp, sửa đổi bổ sung các văn bản luật và dưới luật, các chương trình, dự án, chính sách, kế hoạch, thông qua các kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Mặt trận tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong nhân dân, đấu tranh chống tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của dân. - Vận động, tổ chức Nhân dân tham gia các phong trào quần chúng, thực hiện tốt các chương trình kinh tế - xã hội của đất nước. Nhà nước dựa vào Mặt trận và các đoàn thể để phát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ chức của Nhân dân, tôn trọng và tạo điều kiện để Nhân dân trực tiếp hoặc thông qua đoàn thể của mình tham gia xây dựng, quản lý và bảo vệ Nhà nước.
Hoạt động của Nhà nước mang tính quyền lực từ trên xuống, hoạt động của Mặt trận mang tính chất vận động quần chúng từ cơ sở. Nhà nước phối hợp với Mặt trận trong việc chăm lo lợi ích chính đánh của Nhân dân, trong việc vận động các tầng lớp Nhân dân thực hiện thắng lợi các chương trình kinh tế - xã hội. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động có hiệu quả. Có thể nói, Mặt trận Tổ quốc là thành viên chiến lược của hệ thống chính trị, trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thiếu vắng Mặt trận, Đảng sẽ mất đi cơ sở quần chúng của mình, chính quyền nhà nước cũng mất đi cơ sở chính trị, các chủ thể trong hệ thống chính trị khi thực hiện các quan hệ chính trị sẽ trở nên phức tạp, thiếu ổn định, từ đó làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và hoạt động quản lý của Nhà nước, hạn chế việc thực thi dân chủ. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vì thế có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, cùng với các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện đoàn kết, tập hợp lực lượng; xây dựng đồng thuận xã hội; chăm lo lợi ích cho các tầng lớp Nhân dân. Mặt trận Tổ quốc không chỉ là phương thức tổ chức qua đó Nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình, mà còn là môi trường để Nhân dân thực hành quyền làm chủ. Trong những điều kiện cụ thể, Mặt trận thay mặt và đại diện Nhân dân đấu tranh với các biểu hiện vi phạm dân chủ.
Cơ cấu tổ chức, chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tổ chức theo cấp hành chính, từ Trung ương tới cơ sở. Ở mỗi cấp hành chính đều có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Dưới cấp xã còn có Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Ở trung ương có Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ở địa phương có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương (gọi chung là cấp huyện); Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Ở mỗi cấp có Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc. Ngoài ra, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã thành lập Ban công tác Mặt trận ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác (gọi chung là khu dân cư).
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là thành viên của hệ thống chính trị có chức năng, nhiệm vụ riêng và tồn tại, hoạt động trong mối quan hệ với các thành viên khác của hệ thống chính trị. Chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do tính chất của một tổ chức liên minh chính trị và vai trò chính trị xã hội của Mặt trận quy định. Các chức năng cơ bản của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm: Thứ nhất, chức năng đại diện cho lợi ích của Nhân dân, bảo vệ quyền hợp pháp chính đáng cho các thành viên. Thứ hai, chức năng tập hợp, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
11 Thứ ba, chức năng tuyên truyền, thuyết phục, vận động Nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Thứ tư, chức năng tham gia xây dựng Đảng, xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân. Thứ năm, chức năng giám sát và phản biện xã hội. Các chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tồn tại trong mối quan hệ khăng khít của một chính thể thực thi quyền lực của Nhân dân.
Mối quan hệ này thể hiện vai trò chính trị và vai trò xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: là cầu nối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội thì Mặt trận cũng sẽ thực hiện tốt các chức năng kia và ngược lại. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thứ nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Thứ hai, tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên.
Các thành viên gia nhập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên cơ sở tự nguyện, tán thành Điều lệ Mặt trận, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp xem xét, công nhận.