CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN TRONG THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở CẤP XÃ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò giám sát của nhân dân trong thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã 1. Khái niệm giám sát của nhân dân trong thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã Giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và sự tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh. Giám sát là một hình thức hoạt động quan trọng, đồng thời là quyền của cơ quan nhà nước thể hiện ở việc xem xét đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó.
Từ Cách mạng Tháng Tám - 1945, nhất là từ Đại hội VI (1986) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức nhất quán về dân chủ và tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN với đầy đủ tính chất “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”. Nhìn lại hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta cho rằng: “Nền dân chủ XHCN ở Việt Nam phải vừa thể hiện các giá trị dân chủ phổ quát của nhân loại, vừa thể hiện những giá trị đặc trưng phản ánh bản sắc, đặc điểm văn hóa….gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân …trong đó nhân dân là chủ thể của các thiết chế chính trị và Nhà nước theo đúng nguyên lý chủ quyền nhân dân được quy định trong Hiến pháp 2013” [Bài viết “Thế nào là dân chủ”, Trang thông 7 tin điện tử Cựu chiến binh Việt Nam, cập nhật ngày 24/10/2019 của Tác giả Nguyễn Hồng (2019),]. Khái niệm dân chủ có một nội hàm hết sức phong phú với một lịch sử phát triển trên hai nghìn năm qua nhưng nếu hiểu vắn tắt và cơ bản thì có thể nói: dân chủ là khái niệm dùng để chỉ quyền làm chủ của Nhân dân. Dân chủ là giá trị chung của nhân loại.
Khi nói về vai trò của dân chủ, ít nhất chúng ta phải nhớ ba điều sau đây: Thứ nhất, Lênin khẳng định: “Không có dân chủ không có tiến bộ xã hội”; Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy “Dân chủ là chìa khóa vạn năng giải quyết mọi khó khăn”; Thứ ba, Đảng ta khẳng định: Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển [Bài viết “Dân chủ và phát triển”, Cổng thông tin điện tử Công đoàn viên chức Việt Nam http://www.vn/, cập nhật ngày 03/6/2019, tác giả Đào Thịnh (2019)]. Dân chủ là “hình thức tổ chức thiết chế chính trị xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế nhất định…” [Từ điển bách khoa Việt Nam. Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995, tr.
Cơ sở là nơi trực tiếp nhất của thực tiễn, thể hiện ý thức và năng lực làm chủ của nhân dân bằng cả phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Cơ sở còn là cấp hành động và tổ chức hành động, nghĩa là cấp tổ chức triển khai thực hiện chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với hoạt động giám sát của nhân dân trong thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã, không nghiên cứu hoạt động giám sát của nhân dân trong thực hiện dân chủ cơ sở ở các cơ quan, doanh nghiêp, tổ chức kinh tế, sự nghiệp thuộc các bộ quản lý ngành, lĩnh vực. 8 Theo quy định của Pháp lệnh Thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn, thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã có các nội dung sau: Một là, những nội dung nhân dân được biết.
Mỗi nội dung là một phần của “dân chủ” nhưng không phải dân chủ chỉ bao gồm những nội dung này. Bởi đây chỉ đang xét dưới góc độ dân chủ trong chính trị. Hai là, nhân dân bàn bạc và quyết định các công việc ở cấp xã Nhân dân là chủ thể tham gia bàn bạc và quyết định trực tiếp một số công việc ở cơ sở theo quy định của pháp luật. Trong thực hiện dân chủ, “bàn bạc” và “quyết định” là hai lĩnh vực có liên hệ mật thiết với nhau, vừa phản ánh nội dung, quy trình, cách thức thực hiện quyền dân chủ của người dân.
Bàn bạc, thảo luận ở đây gồm có bàn bạc giữa cơ quan quản lý với người dân và giữa những người dân với nhau. Tùy theo từng vấn đề cụ thể mà pháp luật quy định nội dung, hình thức của việc bàn bạc, quyết định. Ngoài ra, nhân dân còn tham gia bàn bạc, biểu quyết để cấp có thẩm quyền ra quyết định. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa tự quản cộng đồng và quản lý hành chính nhà nước.
Ba là, Nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định. Đây là một hình thức phát huy quyền làm chủ của người dân. Với tư cách chủ thể quyền lực, người dân có quyền tham gia ý kiến vào những lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt của mình. Việc lấy ý kiến Nhân dân không phải là hoạt động tùy thích của chủ thể quản lý mà được quy định cụ thể, rõ ràng trong pháp luật.
Pháp lệnh 34/PL/2007 quy định cụ thể những công việc mà cơ quan có thẩm quyền phải lấy kiến của nhân dân trước khi quyết định. Bốn là, Nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với một số công việc ở cơ sở 9 Nhân dân được quyền giám sát việc thực hiện đối với tất cả những việc mà nhân dân có quyền được biết, được bàn và quyết định, được tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định. Hoạt động giám sát của Nhân dân có thể được thực hiện thông qua hoạt động của các tổ chức do nhân dân thành lập ra hoặc thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của mình. Để thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã, pháp luật quy định những nội dung mà chính quyền cấp xã phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định và những nội dung nhân dân được quyền giám sát.
Từ những quy định trên cho thấy, giám sát của nhân dân là một trong những nội dung thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã. Hoạt động giám sát được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh [Học viện Hành chính Quốc gia: Hành chính nhà nước và công nghệ hành chính, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2007, tr. “Giám sát là sự theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người này đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội; trong việc thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng. Trong Từ điển tiếng Việt (1997), giám sát được giải thích là: “Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều đã quy định không” [Số 78, tr.
Từ những cách hiểu về hoạt động giám sát như trên, ta có thể thấy hoạt động giám sát mang nội hàm như sau: Giám sát là một hoạt động của một chủ 10 thể biểu hiện qua quá trình theo dõi, quan sát, xem xét, phân tích, nhận định về hành vi, việc làm của đối tượng bị giám sát. Mục đích của giám sát là xem xét hành vi, việc làm của đối tượng bị giám sát xem có đúng với những quy định, định hướng của chủ thể quyền lực đặt ra hay không, để có những tác động nhằm điều chỉnh đối tượng thực hiện đúng yêu cầu, quy định của chủ thể quyền lực. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về giám sát của nhân dân trong thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã như sau: Giám sát của nhân dân trong thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã là hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị của nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các đoàn thể quần chúng đối với hoạt động của chính quyền cấp xã nhằm bảo đảm cho cán bộ, công chức, các cơ quan nhà nước thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao. Đặc điểm giám sát của nhân dân trong thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã - Đặc điểm về chủ thể của hoạt động giám sát Thực hiện giám sát dân chủ cơ sở ở cấp xã là nhân dân, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng, Tổ hòa giải có liên quan đến việc giám sát trong thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp tại các địa phương.
Quyền giám sát của chủ thể được quy định tại Hiến pháp và các văn bản pháp luật. Phạm vi giám sát được triển khai trên địa bàn từng xã, phường, thị trấn cụ thể với những nội dung như giám sát đối với nhà nước thông qua hoạt động tham gia quản lý nhà nước và xã hội được thể hiện quyền giám sát như: công dân có quyền bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước, đóng góp ý kiến xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo cấp chính quyền địa phương về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức cấp xã; tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Hiến pháp và pháp luật; giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở. 11 Giám sát luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định, có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, đánh giá về một việc đã được thực hiện, giám sát không đồng nhất với đối tượng chịu sự giám sát.