phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết. Những vấn đề lý luận về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với các cơ quan hành chính Nhà nước. Thực trạng về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với các cơ quan hành chính Nhà nước từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh. Một số giải pháp để phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với các cơ quan hành chính Nhà nước.
8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ Ý UẬN VỀ GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm, tính chất, mục đích và nguyên tắc giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trong hệ thống chính trị nước ta, theo quy định hiện hành thì Đảng, Nhà nước và Mặt trận đều có vai trò giám sát theo vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức. Nhân dân vừa có quyền giám sát trực tiếp vừa giám sát thông qua MTTQVN Việt Nam. Trước hết cần phải xem xét khái niệm giám sát.
Theo từ điển luật học: "Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh". Trong cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam (NXB Chính trị Quốc gia, trang 184) nêu khái niệm giám sát như sau: “Giám sát là theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức cộng đồng người đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị - xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái ”. Qua thực tiễn hoạt động, giám sát của MTTQVN Việt Nam, các tổ chức CT- XH và nhân dân được hiểu là việc xem xét, phát hiện, kiến nghị với cơ quan tổ chức Đảng, Nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý. TS Hoàng Thị Ngân cho rằng, "“Giám sát” và “phản biện” là những khái niệm đã từng được cắt nghĩa dưới giác độ ngôn ngữ.
Cùng với sự hiện diện trong các Từ điển tiếng Việt, giám sát còn có mặt trong các Từ điển giải thích thuật ngữ khoa học chuyên ngành và được chú ý với tính chất là một khái niệm mang tính 9 pháp lý. Chẳng hạn như, theo Từ điển luật học, giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh. “Giám sát xã hội” và “phản biện xã hội” là những cụm từ đã từng xuất hiện trên các ấn phẩm chính thức. Để đi đến nhận thức chung về hai thuật ngữ nói trên, cần khám phá nội dung và đặc trưng của giám sát xã hội và phản biện xã hội [39, tr.
Trong thực tiễn hoạt động, cần có sự phân biệt giữa giám sát với kiểm tra, thanh tra và kiểm sát, sự khác nhau đó được thể hiện ở quan hệ pháp lý, về đối tượng, chủ thể, phạm vi, phương pháp thực hiện và biện pháp xử lý. Ở nước ta, mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đồng thời nhân dân còn thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua MTTQVN Việt Nam. Pháp luật ghi nhận quyền và trách nhiệm của Mặt trận và các tổ chức thành viên Mặt trận trong giám sát là thực hiện mở rộng nền dân chủ XHCN theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng.
Mục đích giám sát của MTTQVN Việt Nam, các tổ chức CT-XH và nhân dân nhằm góp phần thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; kiến nghị khắc phục những sai sót, yếu kém và sửa đổi, bổ sung những quy định không còn phù hợp; phát hiện những nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy dân chủ, động viên nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Hoạt động giám sát được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm phát huy dân chủ, sự tham gia của Nhân dân, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng của Nhân dân; thực hiện công khai, minh bạch, không chồng chéo; không làm cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám 10 sát. Trong hoạt động giám sát của MTTQVN phải bảo đảm những nguyên tắc về sự lãnh đạo của Đảng, đúng pháp luật, thực sự khách quan, mang tính xây dựng cùng hướng tới mục đích của giám sát là hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước và của Đảng, nhằm góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ việc đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát: "Các cấp uỷ, tổ chức đảng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng.
Tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp; việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, nhất là những vụ án nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội; kiểm tra, giám sát việc tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân các cấp trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải phối hợp chặt chẽ với công tác thanh tra của Chính phủ, công tác giám sát của Quốc hội và các cơ quan hành pháp, tư pháp, MTTQVN và các đoàn thể nhân dân theo đúng chức năng và thẩm quyền của mỗi cơ quan. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hoạt động của hệ thống uỷ ban kiểm tra các cấp.
Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra đảng với các tổ chức đảng và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc xem xét khiếu nại, tố cáo và xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên". - Có thể khái quát đặc trưng của giám sát của MTTQVN như sau: 11 Thứ nhất, giám sát của MTTQVN là hoạt động theo dõi, xem xét, phát hiện, đánh giá việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức Nhà nước. Thứ hai, giám sát của MTTQVN mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục. Thứ ba, nội dung, phương thức giám sát của Mặt trận; quyền và trách nhiệm của MTTQVN và các cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức Nhà nước trong giám sát được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Giám sát cùng với kiểm tra, thanh tra, kiểm sát là những hoạt động mang tính tất yếu khách quan của tất cả các Nhà nước ở mọi thời đại lịch sử; là một nhiệm vụ trong quá trình thực thi quyền lực chính trị nhằm làm cho các đối tượng của giám sát thực hiện đúng yêu cầu, mục đích, chức năng, mục tiêu đã đặt ra. Thuật ngữ giám sát hiện nay được dùng rất phổ biến trong khoa học chính trị, pháp lý và được đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và các tổ chức CT-XH, tổ chức xã hội cũng như trong các mối quan hệ đời sống xã hội. Thuật ngữ giám sát có thể được sử dụng một cách riêng rẽ, độc lập như: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” (Điều 83 Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001); Hội Nông dân “giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở nông thôn” (Điều 19 Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam); Ủy ban Thường vụ Quốc hội “giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân…” (Điều 91 Hiến pháp); Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam “kiểm tra, giám sát việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước có liên quan đến quyền lợi, đời sống của phụ nữ, tr em…” (Điều 2 Điều lệ của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam). Theo quan điểm của Học viện hành chính quốc gia: “Giám sát là sự tác động quyền lực nhằm chấn chỉnh những lệch lạc, trái pháp luật, sai trái mục tiêu của một hệ thống đối với một hệ thống khác nằm ngoài quan hệ trực thuộc theo chiều dọc” [27, tr.
12 Cùng với sự giải thích trong các Từ điển tiếng Việt, “giám sát” còn được các từ điển thuật ngữ chuyên ngành đề cập tới như là một khái niệm mang tính pháp lý. Cụ thể, theo Từ điển Luật học: "Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sáng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh".