MỞ ĐẦU 1. Tinh cấp thiết của việc nghiên cứu dé tài Lịch sử lập hiến Việt Nam cũng chính là một phần lịch sử giữ nước và dựng nước. Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một văn kiện pháp lý có ý nghĩa vô cùng to lớn: đưa người dân Việt Nam từ địa vị nô lệ lên làm chủ đất nước. Từ Hiến pháp 1946, các bản Hiến pháp sau đó không ngừng phát triển hơn nữa những quyền cơ bản của công dân cũng như ghi nhận những nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước.
Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10)khẳng định tại điều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Từ trước tới nay, bản chất dân chủ của nhà nước ta luôn được khẳng định và ngày càng được mở rộng. Hiện nay, việc xây dựng nhà nước pháp quyền là một hình thức hữu hiệu dé phát huy dân chủ. Nhà nước pháp quyền là nhà nước đặt pháp luật ở vị trí tối thượng đối với toàn bộ đời sống xã hội.
Trong đó, Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất. Có thể lược giản van dé này bằng chuỗi: Dân chủ - Nhà nước pháp quyên - Hiến pháp. Như vậy van đề đảm bảo việc thực thi Hiến pháp là trọng tâm của vấn đề nhà nước pháp quyền và xây dựng dân chủ. Nhưng thực tế ở Việt Nam hiện nay cho thấy chưa có một cơ chế cụ thé chuyên biệt nào dé bảo vệ Hiến pháp.
Điều đó khiến cho có những van bản pháp luật, những hành vi của cơ quan công quyền vi phạm hiến pháp, ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân, uy tín của nhà nước mà chưa được xử lý nghiêm minh. Điều này đã làm nảy sinh ý kiến về việc thành lập một cơ quan riêng biệt ở Việt Nam với chức năng bảo vệ Hiến pháp. Rất nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên nganh, nhiều hội thảo đã được tô chức bàn luận sôi nỗi về van dé trên nhằm đưa ra giải pháp thích hợp nhất. Chính thức tại báo cáo lad chính tri của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Dai hội dai biéu toàn quốc lần thứ X khi đề cập tới phương hướng “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” đã nêu rõ : “Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quy định của các cơ quan công quyền”.
Đồng thời phải “xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp". Tất cả đã chứng tỏ sự quan tâm thực sự của Đảng và Nhà nước đối với van dé bảo đảm việc thực thi Hiến pháp ở nước ta hiện nay. Bảo vệ Hiến pháp thực chất là bảo vệ những quyền cơ bản của công dân, bảo vệ những nguyên tắc tô chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo vệ chế độ chính chị, chế độ kinh tế. Với ý nghĩa như vậy, việc xây dựng một cơ quan bảo hiến là một yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay.
Vì thế, việc nghiên cứu đề xuất phương án dé đáp ứng yêu cầu trên là không thể thiếu. Chính vì những lí do trên mà tôi lựa chọn đề tài “Một số vấn đề về việc xây dựng cơ quan bảo hiến ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình. Mục đích của đề tài Nếu như trên thế giới, một cơ quan có chức năng bảo vệ hiến pháp đã được thành lập từ lâu thì ở Việt Nam chưa từng ton tại một cơ quan độc lập nao có chức năng tương tự như vậy. Vì thé đối với khoa học pháp lý Việt Nam đây là một vấn đề mới mẻ, thiếu cả tính thực tiễn cũng như lý luận.
Trong phạm vi nghiên cứu của sinh viên, tác giả mong muốn tìm hiểu những kiến thức về mô hình các cơ quan bảo hiến trên thế giới và cơ chế hoạt động của các loại hình cơ quan này. Mục đích cuối cùng của việc nghiên cứu đề tài đó là từ việc tiếp thu những kinh nghiệm nước ngoài, dé xuất ý kiến cho việc xây dựng cơ quan bảo hiên ở nước ta trong thời gian tới. Pham vi nghién cứu: Bảo vệ hiến pháp là một van dé rộng và cơ quan bảo hiến chỉ là một bộ phận của van dé ay. Song nó lại giữ một vi trí hết sức quan trọng, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến cơ quan nảy.
Phưong pháp nghiên cứu Đề tài được dựa trên phương pháp chung là phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lê nin. Đồng thời còn sử dụng thêm một số phương pháp như phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử. II - PHAN NỘI DUNG PHAN MOT:VAN DE BAO HIEN O VIET NAM HIEN NAY Câu hỏi đặt ra dau tiên khi tiếp cận vấn dé này đó là: ở Việt Nam có cần một cơ quan riêng biệt với chức năng bảo vệ Hiến pháp hay không? Như đã trình bay tai phần mở dau về yêu cầu cấp thiết phải thành lập cơ quan bảo hiến trước những hành vi xâm hại của cơ quan công quyền, trong phần này đề tài sẽ đi sâu phân tích cả cơ sở thực tế và cơ sở lý luận để nhận thức rõ nguyên nhân của yêu cầu trên và trả lời cho câu hỏi đầu tiên này. Cơ sở thực tế 1.
Vài nét về vấn dé bảo vệ Hiến pháp ở nước ta hiện nay a. Tham quyền bảo vệ Hiến pháp Theo những quy định hiện hành, trong hệ thống các cơ quan nhà nước có nhiều chủ thé có thâm quyền trong việc giám sát việc thi hành Hiến pháp, ma cụ thể hơn là giám sát về tính hợp hiến của hệ thống các văn bản pháp luật có giá trị thấp hơn Hiến pháp. Trong đó, Quốc hội “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” giữ vai trò “giám sát tối cao” Cu thé theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì: * Đối với Quốc hội: theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội, Chính phú, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc và các t6 chức thành viên, đại biểu Quốc hội, Quốc hội xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ luật, nghị quyết của Quốc hội trái Hiến pháp; xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân Tối cao trái hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội * Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội hoặc đại biểu Quốc hội hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh và nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái Hién pháp, luật nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó. * Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội: giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thâm quyền ở Trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thấm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội thuộc lĩnh vực hội đồng dân tộc, ủy ban phụ trách.
Ủy ban pháp luật của Quốc hội còn giám sát văn bản quy phạm pháp luật của tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao * Chính phủ: kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,ủy ban nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp. Quyết định đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái hiến pháp(.) đồng thời đề nghị ủy ban thường vụ quốc hội bãi bỏ. * Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách b.
Đặc điểm Có thể nói với những quy định như trên thì ở Việt Nam đã có những cơ sở của một cơ chế bảo hiến với thiết chế và nội dung tương déi cụ thé. Trong đó vấn đề giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật - một nội dung quan trọng trong hoạt động bảo hiến được chú trọng xây dựng. Thẩm quyền giám sát tính hợp hiến của hệ thống văn bản pháp luật được trao cho nhiều chủ thể với thẩm quyền khác nhau. Để tạo khả năng cho các chủ thể có thể tích cực, chủ động trong việc bảo đảm sự hợp lý, thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thì ngoài thẩm quyền bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình còn có thêm quyền đình chỉ những văn bản không thuộc thẩm quyền huỷ bỏ để dé nghị cơ quan có thẩm quyền huỷ bỏ.
Việc giao thẩm quyền nay cho nhiều chủ thể làm cho hoạt động này phân tán nhiều khi chồng chéo, dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Đồng thời làm Ju mờ vai trò giám sát tối cao của Quốc hội. Và như vậy là đã làm hạn chế hiệu quả của hoạt động trên. Cơ sở pháp lý còn chưa đầy đủ: thể hiện ở việc chưa quy định cụ thể, rõ ràng về trình tự, thủ tục, phương pháp hoạt động cụ thể.
Và đặc biệt chưa quy định được rõ biện pháp xử lý nghiêm minh. Điều này càng làm cho các hoạt động bảo hiến trở nên kém hiệu quả.