CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE GIẢI THẺ DOANH NGHIỆP VA PHAP LUAT VE GIAI THE DOANH NGHIEP 1. MOT SO VAN DE LY LUAN VE GIAI THE DOANH NGHIEP 1. Khái niệm và đặc điểm của giải thé doanh nghiệp 1. Khái niệm giải thể doanh nghiệp Giống như các thực thê xã hội khác, doanh nghiệp cũng có quá trình sinh ra, phát triển và điệt vong.
Tại Việt Nam, hàng ngày có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập mới thì ngược lại cũng có không ít các doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Gia nhập và rút khỏi thị trường là một quá trình tất yếu của doanh nghiệp trong nên kinh tế thị trường. Hiện nay, có nhiều cách thức để doanh nghiệp rút khỏi thị trường và một trong số đó là giải thể doanh nghiệp. Dưới góc độ ngôn ngữ, theo từ điển Tiếng Việt, giải thé là “không còn hoặc làm cho không còn ton tại như một tổ chức, các thành phan, thành viên phân tan di” [11].
Như vậy, hiểu theo cách thông thường thì giải thé doanh nghiệp có nghĩa là doanh nghiệp chấm dứt sự tôn tại, không còn tiến hành hoạt động kinh doanh. Trong tiếng Anh, có khá nhiều thuật ngữ được dùng để thé hiện khái niệm này chang hạn như: “dissolution”, “disband” hay “break up” [8]. Đây là các thuật ngữ được dùng dé chỉ việc doanh nghiệp cham dứt sự tn tại. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm giải thể doanh nghiệp chưa được quy định tại bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào.
Tuy nhiên, trong các tài liệu nghiên cứu luật học, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm giải thể doanh nghiệp. Theo từ điển Luật học, giải thé doanh nghiệp là “thi tuc cham dứt sự tôn tại của doanh nghiệp, với tu cách là một chu thể kinh doanh bằng cách thanh lí tài sản của doanh nghiệp dé trả cho các chủ nợ” [2]. Bên cạnh đó, trong một số tài liệu nghiên cứu khác, các tác giả cũng đưa ra khái niệm giải thể doanh nghiệp chắng hạn như Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam của Viện Đại học Mở Hà Nội: “Giải thể doanh nghiệp là một trong những thủ tục pháp lý dan đến cham ditt sự tôn tại của doanh nghiệp” [10] hay Giáo trình Pháp luật Kinh tế - Khoa Luật Trường Đại học Kinh tẾ Quốc dân: “Giải thể doanh nghiệp được nhìn nhận là việc một doanh nghiệp cham dứt hoạt động kinh doanh, không tiếp tục tôn tại trên thị trường với tư cách là một chủ thể kinh doanh” [6]. Như vậy, có thé thay các nhà nghiên cứu luật học có cách hiểu về khái niệm giải thé doanh nghiệp tương đối giống nhau, đều cho rang giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp với tư cách là một chủ thê kinh doanh.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận răng, giải thể doanh nghiệp không phải là một thời điểm, một sự kiện mà là một quá trình [3] và quá trình đó phải tuân theo các quy định của pháp luật. Trong đó, pháp luật quy định điều kiện giải thể doanh nghiệp đó là doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp. Tóm lại, giải thể doanh nghiệp được hiểu là quá trình dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tai sản khác của doanh nghiệp đó. Đặc điểm của giải thể doanh nghiệp Theo pháp luật hiện hành, giải thể doanh nghiệp có các đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, giải thé doanh nghiệp dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp tiến hành thủ tục giải thể thì mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ phải chấm dứt, doanh nghiệp phải tiến hành thanh lý các tài sản, thực hiện việc thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp. Hậu quả của việc giải thể doanh nghiệp đó là doanh nghiệp sẽ bị xóa tên trong sô đăng ký doanh nghiệp. Kê từ thời điểm cơ quan đăng ký kinh doanh xóa tên doanh nghiệp trong số đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó không còn tôn tại trên thị trường nữa. Thứ hai, giải thé doanh nghiệp là thủ tục mang tính hành chính.
Việc giải thé doanh nghiệp do doanh nghiệp mà cụ thể là chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp tiễn hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Đề chấm dứt sự ton tại, doanh nghiệp phải thực hiện rất nhiều thủ tục, có thé ké đến như thủ tục cham dứt hiệu lực mã số thuế, trả con dấu, nộp hồ sơ giải thể, xóa tên doanh nghiệp trong số đăng ký doanh nghiệp. Đây đều là những thủ tục được tiến hành tại co quan hành chính. Thứ ba, giải thé doanh nghiệp mang tính tự nguyện hoặc bắt buộc.
Giải thể doanh nghiệp trước hết là quyền của chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân, tất cả thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, Đại hội đồng cô đông công ty cô phần đều có quyền quyết định giải thể doanh nghiệp. Đây là trường hợp giải thé hoàn toàn mang tính chat tự nguyện, theo ý chí của nhà đầu tư. Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định các trường hợp doanh nghiệp bắt buộc phải giải thể, cụ thể là trong những trường hợp doanh nghiệp không còn đáp ứng các điều kiện dé tiếp tục hoạt động hay vi phạm các quy định của pháp luật chang hạn như: nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo, doanh nghiệp do những người bị cam thành lập doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 thành lập.
Trong trường hợp này doanh nghiệp giải thé hoàn toàn theo ý chí của cơ quan nhà nước có thâm quyền mà không phụ thuộc vào ý chí của nhà dau tư. Tht tư, việc giải thé doanh nghiệp có thé do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng phải đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thê giải thể xuất phát từ lý do như: chủ doanh nghiệp hoặc các chủ sở hữu doanh nghiệp quyết định giải thể doanh nghiệp khi mục tiêu dé ra đã được hoàn thành xong hay không thé đạt được mục tiêu đã đề ra hoặc doanh nghiệp có thé bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, dù giải thể với lý do gi thì doanh nghiệp chi được giải thé khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
Đây là điểm đặc trưng của giải thể doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn chấm dứt sự tồn tại bằng thủ tục giải thể, doanh nghiệp phải tiễn hành thanh lý tài sản và bảo đảm thanh toán đầy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp. Đây cũng là tiêu chí được dùng để phân biệt chế định phá sản doanh nghiệp và giải thé doanh nghiệp. Phân biệt giải thé doanh nghiệp va phá sản doanh nghiệp Về mặt hiện tượng, giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp giống nhau đó là đều dẫn đến việc cham dứt sự tôn tại của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, xét về bản chất thì đây là hai thủ tục pháp lý hoàn toàn khác nhau, thể hiện ở những điểm cơ bản sau: Thứ nhất, lý do giải thê và phá sản doanh nghiệp. Theo quy định của pháp luật hiện hành, có rất nhiều lý do để giải thể một doanh nghiệp, chẳng hạn như doanh nghiệp kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn; doanh nghiệp giải thê theo quyết định của chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu doanh nghiệp; doanh nghiệp bị cơ quan nhà nước có thầm quyền thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trong khi đó, việc phá sản doanh nghiệp chỉ có một lý do duy nhất đó là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu. Như vậy, có thê thấy lý do giải thể đối với mỗi loại hình doanh nghiệp là không đồng nhất và rộng hơn nhiều so với lý do phá sản.
10 Tứ hai, tính chat của thủ tục giải thé và thủ tục phá sản doanh nghiệp. Giải thé doanh nghiệp là một thủ tục hành chính, được thực hiện theo trình tự, thủ tục được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005. Trong khi đó, thủ tục phá sản doanh nghiệp là một thủ tục tư pháp, được thực hiện theo quy định của Luật Phá sản năm 2004. Thứ ba, chủ thé có thâm quyền quyết định việc giải thé và phá sản doanh nghiệp.
Giải thể doanh nghiệp có thể do chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu doanh nghiệp quyết định đối với trường hợp giải thể tự nguyện hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thâm quyền cho phép thành lập doanh nghiệp quyết định đối với trường hợp giải thé bắt buộc. Trong khi đó, phá sản doanh nghiệp do cơ quan nhà nước duy nhất có thâm quyền quyết định đó là Tòa án. Thứ tr, điều kiện giải thé doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp. Đối với giải thé doanh nghiệp thì điều kiện dé doanh nghiệp được phép giải thé đó là khi doanh nghiệp bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp.
Các chủ nợ sẽ được thanh toán đầy đủ các khoản nợ theo thứ tự pháp luật quy định. Trong khi đó, đối với phá sản doanh nghiệp thì bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp không phải là điều kiện bắt buộc. Theo quy định của Luật Phá sản năm 2004, các chủ nợ sẽ được thanh toán các khoản nợ theo thứ tự luật định trên cơ sở số tài sản còn lại của doanh nghiệp (trừ trường hợp đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh). Nếu tài sản có lớn hơn hoặc bằng tài sản nợ thì các chủ nợ được thanh toán day đủ còn nếu số tài sản có nhỏ hơn số tài sản nợ thì các chủ nợ cũng chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng, phần nợ còn thiếu thì các chủ nợ phải chịu rủi ro.
Như vậy, doanh nghiệp bị phá sản có thé thanh toán hết hoặc không thanh toán hêt các khoản nợ cho các chủ nợ. 11 Thứ năm, hậu quả pháp lý của việc giải thé va phá san doanh nghiệp. Giải thể doanh nghiệp luôn dẫn đến chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp và doanh nghiệp bị xóa tên trong số đăng ký doanh nghiệp.