chương 1, đề tài đã trình bày một cách tóm tắt nội dung luận văn, từ lý do và xác định vấn đề nghiên cứu, đến việc đề ra câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, thông qua phương pháp nghiên cứu đề xác định kết quả, thêm vào đó cũng đề cập đến kết cấu và ý nghĩa luận văn. Tiếp theo, chương 2 sẽ tập trung giới thiệu các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa thông tin báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lợi chứng khoán. Đây là phần cơ sở đề tài xác định các biến nghiên cứu sẽ có mặt trong mô hình hồi quy của mình. Phần tiếp theo sẽ trình bày các giả thuyết nghiên cứu.1 Một số nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa thông tin báo cáo tài chính doanh nghiệp và tỷ suất sinh lợi chứng khoán Tại Indonêsia, Robertus Tri Brata Jauhari (2003) đã nghiên cứu về sự tác động của tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu (DER), giá trị sổ sách (P/BV), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), chỉ số giá trên thu nhập (PER), tỷ lệ chi trả cổ tức (DPR) lên tỷ suất sinh lợi chứng khoán tại Sở Giao dịch chứng khoán Jakarta.
Dữ liệu thu được từ Semarang PIPM và thị trường Indonêsia Capital Diretory. Một số tiêu chí đã được quy định để lấy mẫu và 34 mẫu đã thu được. Các kỹ thuật hồi quy đa biến được sử dụng để phân tích dữ liệu. Kết quả tìm thấy đó là DER, P/BV, ROE và DPR có một tác động đáng kể đối với tỷ suất sinh lợi chứng khoán, trong khi đó PER không có tác động đáng kể đối với tỷ suất sinh lợi chứng khoán.
ROE có một tác động tích cực và quan trọng trong lãi chứng khoán ở mức ý nghĩa 1%. DER và DPR có một tác động đáng kể đối với lãi chứng khoán. DER có tác động tiêu cực, ngược lại DPR có tác động tích cực và quan trọng lên lãi chứng khoán. P/BV có tác động tích cực và quan trọng trong lãi chứng khoán ở mức ý nghĩa 10%.
Phát hiện này ngụ ý rằng nhà đầu tư phải xem xét các chỉ tiêu tài chính như DER, P/BV, ROE và DPR khi đầu tư vào chứng khoán. 123doc 7 Cũng ở Indonesia, Dwi Martani, Mulyono, Rahfiani Khairurizka (2009) đã khảo sát sự liên quan của thông tin kế toán trong việc giải thích tỷ suất lợi nhuận chứng khoán. Bài nghiên cứu sử dụng khả năng sinh lợi, tính thanh khoản, tỷ số nợ, chỉ số thị trường, quy mô và dòng tiền đại diện cho thông tin kế toán. Lợi nhuận gộp và lợi nhuận thị trường đã điều chỉnh được sử dụng như các biến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu.
Mẫu nghiên cứu là các công ty trong ngành công nghiệp chế tạo từ năm 2003-2006 ở thị trường chứng khoán Indonesia. Mô hình hồi quy được sử dụng trong bài nghiên cứu này như sau: RET = β0 + β1 NPM + β2 ROE + β3 CR + β4 DER + β5 TATO + β6 PBV + β7 CFO/Sales + β8 LogTA (1) Biến phụ thuộc bao gồm hai biến lợi nhuận: suất sinh lợi thị trường được điều chỉnh và suất sinh lợi bất thường. 123doc 8 Nghiên cứu đưa ra những kết luận quan trọng như: - Có thể kết luận rằng chỉ số tài chính, kích thước công ty và dòng tiền từ hoạt động cùng ảnh hưởng lên lợi nhuận thị trường điều chỉnh và lợi nhuận bất thường. Sự biến động của lợi nhuận được giải thích tốt nhất bằng dữ liệu quý 2.
- Các biến mà có ý nghĩa phù hợp lên lợi nhuận điều chỉnh và lợi nhuận bất thường là các chỉ số khả năng sinh lời (NPM và ROE), TATO, và tỷ số giá trị thị trường (PBV). Điều này cho thấy rằng theo quan điểm của nhà đầu tư thì chỉ số tài chính hữu dụng để đưa ra quyết định đầu tư. Hobarth (2006) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số tài chính và tính hiệu quả của 1.672 công ty niêm yết Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ 1986 đến 2004 bằng cách sử dụng 17 chỉ số tài chính và ba biến để đo lường hiệu quả của doanh nghiệp, cụ thể là hiệu quả hoạt động trên thị trường (đo bởi mức thay đổi của giá cồ phiếu), tính hiệu quả dòng tiền (đo bằng cổ tức tiền mặt phân phối cho các cổ đông), và lợi nhuận thực hiện đo bằng lợi tức đầu tư. Việc lựa chọn 17 biến như các chỉ số tiềm năng một phần dựa vào các nghiên cứu trước đây và một phần dựa trên những xem xét của tác giả.
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng để phân tích với các hệ số hiệu ứng cố định bằng cách sử dụng kỹ thuật sai số ít nhất. Ngoài ra, một bài kiểm tra đặc điểm kỹ thuật được tiến hành để quyết định xem một hiệu ứng ngẫu nhiên hay cố định được sử dụng. Kết quả cho thấy các công ty với chỉ số tỷ lệ thấp giá kế toán trên giá trị trường, quản lý vốn lưu động hiệu quả, thanh khoản thấp, nhiều vốn cổ phần và nợ phải trả ít hơn, và lợi nhuận giữ lại cao cho các mục đích tái đầu tư sẽ có hoạt động lợi nhuận tốt hơn đo bằng lợi tức đầu tư. Các công ty có ý kiến không đủ tiêu chuẩn từ kiểm toán viên, nợ nhiều hơn và vốn chủ sở hữu ít hơn, ít tài sản và lợi nhuận giữ lại thấp có tính hiệu quả dòng tiền tốt hơn (đo bằng cổ tức tiền mặt).
Hơn nữa, các doanh nghiệp có tỷ lệ giá kế toán trên giá thị trường thấp, quản lý vốn lưu động hiệu quả, nhiều vốn cổ phần và nợ phải trả ít hơn, tổng tài sản thấp, và tỷ suất EBIT cao có tính hiệu quả thị trường tốt hơn (được đo bởi những thay đổi trong 123doc 9 giá cổ phiếu). Kết quả đã chỉ ra rằng, có tồn tại một mối quan hệ giữa hiệu suất của công ty và các chỉ số tài chính. Nghiên cứu khác về thông tin kế toán để dự đoán lợi nhuận trên cổ phần cũng được tiến hành tại Indonesia. Daniat và Suhairi (2006) cho thấy rằng dòng tiền từ hoạt động đầu tư, lợi nhuận gộp, và kích thước của công ty ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận kỳ vọng trên cổ phiếu.
Mặt khác, dòng tiền từ hoạt động không ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận kì vọng. Meythi (2006) nghiên cứu 100 công ty sản xuất ở BEJ trong 1999-2002 và kết luận, với lợi nhuận ổn định như một biến số can thiệp, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Tại Mỹ, Lev và Thiagarajan (1993) thực hiện một nghiên cứu về mối tương quan giữa 12 biến cơ bản và lợi nhuận bất thường của doanh nghiệp trong giai đoạn 1974-1988, bằng cách sử dụng các thay đổi trong hàng tồn kho, các khoản phải thu, vốn chi tiêu, R&D, tỷ suất sinh lợi, doanh thu và chi phí hành chính, cung cấp phải thu khó đòi, thuế hiệu quả, phiếu đặt hàng, lực lượng lao động, thu nhập LIFO, và kiểm toán đủ điều kiện như là các biến độc lập. Kết quả cho thấy thay đổi trong hàng tồn kho, phải thu, chi phí vốn, tỷ suất lợi nhuận, bán hàng và chi phí hành chính, phiếu đặt hàng ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận, với α = 5%.
Họ cũng quan sát thấy rằng sự tương quan giữa lợi nhuận và biến cơ bản sẽ mạnh mẽ hơn khi xét đến những biến số kinh tế vĩ mô như tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng GNP. Abarbanell và Bushee (1998) đã kiểm tra rằng việc áp dụng phân tích cơ bản có thể mang lại lợi nhuận đáng kể nào không. Sử dụng một bộ tập hợp các tín hiệu phản ánh quy tắc truyền thống của phân tích cơ bản liên quan đến những những thay đổi xảy ra cùng lúc trong hàng tồn kho, các tài khoản phải thu, lợi nhuận gộp, chi phí bán hàng, chi phí vốn, các mức thuế suất hiệu quả, phương pháp kiểm kê, trình độ kiểm toán, và năng suất lao động của lực lượng bán hàng, bài viết lập nên những danh mục đầu tư kiếm được lợi nhuận bất thường trung bình 12 tháng tích lũy đã điều chỉnh quy mô 13,2%. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 9.764 công ty trong thời gian 1974-1988.
Bài viết đã trình bày bằng chứng cho thấy những tín hiệu dựa trên số liệu kế 123doc 10 toán được xác định để phản ánh những khái niệm quen thuộc về phân tích cơ bản có thể được sử dụng để dự đoán lợi nhuận bất thường trong tương lai. Kết quả cho thấy thay đổi trong hàng tồn kho, tổng lợi nhuận, bán hàng và chi phí hành chính cung cấp thông tin về lợi nhuận trong tương lai của doanh nghiệp liên kết với thu nhập công bố trong tương lai. Trong số tất cả các biến trong nghiên cứu này, những thay đổi trong hàng tồn kho, chi phí vốn, thuế suất hiệu quả là các chỉ số mạnh trong việc dự đoán thu nhập tương lai của công ty. Các tín hiệu liên quan đến những thay đổi trong tỷ suất lợi nhuận gộp và chi phí bán hàng cũng xuất hiện để nắm bắt thông tin ít được sử dụng bởi thị trường về thu nhập một năm và/hoặc rủi ro.
Hầu hết lợi nhuận bất thường xảy ra trong thời gian trước và sau khi thông báo thu nhập trong năm. Những kết quả khác nhau đến từ nghiên cứu thực hiện bởi Warfrield và Wild (1992) cho thấy bằng chứng thực nghiệm về mối tương quan trái chiều giữa khả năng giải thích các khoản thu nhập của doanh nghiệp và độ dài của kỳ báo cáo. Sử dụng báo cáo quý từ 24.150 công ty trong giai đoạn 1983-1986 làm mẫu, họ kết luận rằng sức mạnh giải thích của thu nhập trong việc giải thích lợi nhuận trong một báo cáo hàng quý là chỉ có 25% báo cáo bán niên, và ít hơn 10% của báo cáo hàng năm. R2 đã điều chỉnh trong lợi nhuận hàng quý là ít hơn 1%, nhưng hơn 39% trong 4 năm thu nhập.
Dựa trên một nghiên cứu của Lev, Thiagarajan (1993), Anggraini, Setiawati và Desembriarto (2004) đã cố gắng để tìm hiểu các ảnh hưởng của biến cơ bản về lợi nhuận bất thường trong thời gian khủng hoảng và giai đoạn không khủng hoảng. Thời gian nghiên cứu là 1995-2002, năm 1998 được coi là giai đoạn khủng hoảng. Bài viết này sử dụng bảy biến cơ bản: hàng tồn kho, các khoản phải thu, lợi nhuận gộp, tiếp thị và chi phí hành chính, trợ cấp tài khoản phải thu khó đòi liên quan đến bán hàng, thuế hiệu quả, tỷ lệ và trình độ kiểm toán. Trong giai đoạn khủng hoảng, chỉ lợi nhuận gộp ảnh hưởng đến lợi nhuận bất thường một cách đáng kể, trong khi ở giai đoạn không khủng hoảng hàng tồn kho, báo cáo tài chính, và trình độ kiểm toán có ảnh hưởng đến lợi nhuận bất thường.