Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ TÊN MIỀN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Trong chương một, tác giả sẽ đi phân tích một số vấn đề lý luận chung về nhãn hiệu cũng như tên miền. Về nhãn hiệu, tác giả sẽ đi từ khái niệm, sau đó phân tích đặc điểm và chức năng của nhãn hiệu cũng như điều kiện bảo hộ và việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu. Đối với tên miền, tác giả sẽ nêu khái niệm về tên miền, tiếp đến là phân tích đặc điểm, vai trò của tên miền cũng như nguyên tắc và thủ tục đăng ký tên miền. Từ các vấn đề trên tác giả sẽ chỉ ra được mối liên hệ giữa tên miền và nhãn hiệu làm tiền đề cho việc xác định xung đột quyền giữa nhãn hiệu và tên miền ở chương hai.1 Những vấn đề lý luận về nhãn hiệu 1.1 Khái niệm nhãn hiệu Từ hàng ngàn năm trước công nguyên, các thợ thủ công thời La Mã cổ đại đã tích cực xây dựng thương hiệu, đặt tên, gắn các dấu hiệu với sự chăm chút, tỉ mỉ để nhận dạng lên các sản phẩm như chén dĩa, ống dẫn nước và đạn chì cho súng cao su.12 Qua đó, có thể thấy, việc “đánh dấu” các dấu hiệu để phân biệt sản phẩm của người này, tổ chức này so với sản phẩm của người khác, tổ chức khác đã được chú ý từ rất sớm.
Sự “đánh dấu” đó ngày càng trở nên phổ biến song song với sự phát triển của thương mại hàng hóa. Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, việc phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các cá nhân tổ chức ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Ngày nay, để phân biệt được hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, tổ chức này với cá nhân, tổ chức khác, người sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ đã sử dụng các dấu hiệu mang tính phân biệt được gọi là “nhãn hiệu”. Theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thì “A trademark is a sign capable of distinguishing the goods or service of one enterprise from those of enterprises13”.
Khái niệm này tạm dịch là “Nhãn hiệu là dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ giống nhau hoặc tương tự của cơ sở kinh doanh này 12 Frances D’emilio, “Exhibit explores ancient Roman ‘designer’ labels, trademarks”, https://www.com/sdut-exhibit-explores-ancient-roman-designer-labels-2016jun16- story.html, truy cập ngày 31/5/2021.int/trademarks/en/, truy cập vào ngày 31/5/2021. 7 với các cơ sở kinh doanh khác”. Đây là khái niệm được coi là chung nhất, mang tính khái quát nhất của nhãn hiệu. Còn theo Hiệp định TRIPS14 thì nhãn hiệu là “bất kỳ một dấu hiệu, hoặc một tổ hợp nào các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa.
Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hoá. Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ tương ứng, các Thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng15”. Nếu như WIPO đưa ra khái niệm về nhãn hiệu một cách khái quát, thì khái niệm về nhãn hiệu của Hiệp định TRIPS theo cách liệt kê các dấu hiệu một cách rõ ràng, đặc biệt là liệt kê nhấn mạnh các dấu hiệu nhìn thấy được và sự kết hợp của các dấu hiệu đó. Như vậy, theo Hiệp định TRIPS thì việc xác định một dấu hiệu bất kỳ có thể đăng ký làm nhãn hiệu hay không là căn cứ vào mục đích sử dụng và tính phân biệt của các dấu hiệu đó.
Đây cũng là cách tiếp cận mang tính phổ biến của nhiều quốc gia khi đưa ra khái niệm về nhãn hiệu trong pháp luật của mình, hình thành nên một cách hiểu chung tương đối thống nhất về nhãn hiệu.16 Đạo luật về Nhãn hiệu của Nhật Bản có định nghĩa về nhãn hiệu như sau:“Nhãn hiệu trong đạo luật này có nghĩa là, trong số những nhãn hiệu mà mọi người có thể nhận ra, bất kỳ ký tự, hình vẽ, dấu hiệu hoặc hình dạng hoặc màu sắc ba chiều nào, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của chúng; âm thanh hoặc bất kỳ thứ gì khác được quy định bởi Nội lệnh (sau đây được gọi là “dấu hiệu”): (i) được một người sử dụng liên quan đến hàng hóa mà người đó sản xuất, chứng nhận hoặc chuyển nhượng trong hoạt động kinh doanh của họ; hoặc là; (ii) Được một người sử dụng liên quan 14 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ năm 1994, có hiệu lực pháp lý đối với Việt Nam từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007. 15 Khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPS. Bản dịch Tiếng Việt trên trang web của Thư viện Pháp luật: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Hiep-dinh-khia-canh-lien-quan-toi-thuong-mai-cua-Quyen- so-huu-tri-tue-1994-12722.aspx, truy cập ngày 31/5/2021. 16 Nguyễn Thị Thủy (2018), Bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trang 7.
8 đến các dịch vụ mà người đó cung cấp hoặc chứng nhận là hoạt động kinh doanh của họ (ngoại trừ những dịch vụ được cung cấp ở mục trước)”17. Theo Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ thì khái niệm về nhãn hiệu được quy định như sau: “Nhãn hiệu hàng hóa được cấu thành bởi các dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa. Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận18”. Còn theo quy định của pháp luật Việt Nam thì nhãn hiệu được định nghĩa như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức cá nhân khác nhau19”.
Đây là quy định khái niệm mang tính khái quát và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Khái niệm không chỉ ra các yếu tố được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu nhưng điều này được cụ thể hóa tại Điều 72 Luật SHTT như sau:“Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: 1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; 2. Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”.
Nhìn chung, khái niệm về nhãn hiệu của Việt Nam cũng có các nét tương đồng so với định nghĩa về nhãn hiệu của các tổ chức quốc tế cũng như các quốc gia trên thế giới. Cụ thể, nhãn hiệu là dấu hiệu mang tính phân biệt được hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu so với hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác.2 Đặc điểm và chức năng của nhãn hiệu 1.1 Đặc điểm của nhãn hiệu Nguyên văn khoản 1 Điều 2 Luật Nhãn hiệu Nhật Bản số 121 ngày 13 tháng 4 năm 1959. Luật này được đăng 17 trên trang web: http://www.jp/law/detail_main?re=&vm=02&id=3047, truy cập ngày 01/6/2021. 18 Khoản 1 Điều 6 Chương II Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ngày 13 tháng 7 năm 2000.
19 Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ. 9 Từ khái niệm trên của nhãn hiệu, có thể rút ra được một số đặc điểm của nhãn hiệu như sau: Thứ nhất, nhãn hiệu phải được cấu tạo nên từ một dấu hiệu hoặc tập hợp các dấu hiệu. Thật vậy, không một nhãn hiệu nào được bảo hộ mà lại không chứa một dấu hiệu hoặc là một tập hợp các dấu hiệu nào đó. Các dấu hiệu đó hiện nay rất đa dạng, được chia là hai dạng chính là dấu hiệu tạo nên nhãn hiệu truyền thống (traditional trademark) và dấu hiệu tạo nên nhãn hiệu phi truyền thống (non-traditional trademark).
Dấu hiệu tạo nên nhãn hiệu truyền thống thường được sử dụng như: ký tự, tên, từ ngữ, số, bản vẽ, hình ảnh, hình dạng, màu sắc, nhãn hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của những dấu hiệu này. Đây là các dấu hiệu được sử dụng để làm nhãn hiệu đã có từ lâu đời. Còn đối với nhãn hiệu phi truyền thống được kể đến có thể là màu đơn sắc, dấu hiệu không gian ba chiều (hình dạng của sản phẩm hoặc bao bì), hình ảnh chuyển động, hình ảnh ba chiều khi có ánh sáng thích hợp (holograms), âm thanh, mùi, cử chỉ, dấu hiệu xúc giác (cảm giác hoặc xúc giác) và dấu hiệu chất lỏng/ dấu hiệu thay đổi.20 Muốn bảo hộ các dấu hiệu tạo nên nhãn hiệu phi truyền thống đòi hỏi các quốc gia phải có trình độ khoa học công nghệ cao cũng như trình độ quản lý cao, do đó, việc bảo hộ các dấu hiệu này với danh nghĩa nhãn hiệu đang còn rất hạn chế ở các quốc gia đang phát triển. Thứ hai, nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của cá nhân, tổ chức.
Đây là đặc điểm quan trọng đồng thời cũng thể hiện vai trò của nhãn hiệu. Khả năng phân biệt của nhãn hiệu đã tạo nên sự khác biệt của hàng hóa, dịch vụ của chủ thể sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ này với chủ thể hàng hóa, cung cấp dịch vụ khác. Khi sử dụng một hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu của người cung cấp, khách hàng sẽ phân định được đâu là nhà cung cấp sản phẩm mà mình sử dụng so với các nhà cung cấp khác. Điều này có nghĩa là nhãn hiệu sẽ giúp khách hàng chỉ ra nguồn gốc của sản phẩm, dịch vụ mà mình sử dụng.
Từ đó, cùng với nhãn hiệu, chính khách hàng sẽ là người có khả năng phân biệt hàng hóa dịch vụ của cá nhân, tổ chức. 20 WIPO, Making A Mark – An intridution to Trademarks for Small and Medium-sized Enterprises (2006), trang 8. 10 Thứ ba, một đặc điểm cần phải lưu ý đối với nhãn hiệu không được thể hiện trong khái niệm của nhãn hiệu đó là nhãn hiệu chỉ được giới hạn bảo hộ trong một không gian nhất định (quốc gia/ lãnh thổ) và phạm vi nhóm sản phẩm/dịch vụ đăng ký cho nhãn hiệu đó.