Chương 1. Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế dé thi hành án dân sự Chương 2. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp liên quan đến tài san bi cưỡng chế dé thi hành án dân sự và thực tiễn áp dụng: Chương 3. Kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế dé thi hành án dân sự.
CHUONG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE GIẢI QUYẾT TRANH CHAP LIEN QUAN DEN TÀI SAN BỊ CUONG CHE DE THI HANH ÁN DAN SỰ 1. Khái quát chung về giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án dân sự 1. Khái niệm tài sản bị cưỡng ché dé thi hành án dân sự Đề tìm hiểu nội hàm khái niệm tài sản bị cưỡng chế dé thi hành án dân sự, cần phải làm rõ nội hàm khái niệm tài sản, cưỡng chế thi hành án dân sự. Khái niệm tài sản: Khi tiếp cận ở góc độ kinh tế học, tài sản là một khái niệm dùng đề chỉ nguồn tài nguyên kinh tế, được sở hữu hoặc kiểm soát dé tạo ra giá trị dương tính về kinh tế.
Tài sản được thê hiện dưới dạng hữu hình hoặc dạng vô hình. Xét trên khía cạnh ngôn ngữ học, “tdi sản là của cải vật chất dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng” [59], như vậy tài sản là một thuật ngữ dùng dé chỉ vật chất, tức là nó phải tồn tại ở dạng hữu hình, nếu nó là của cải thì phải hiểu nó có thé được trao đổi, hay nói cách khác nếu thỏa mãn yếu tố có thé được trao đổi thì có thể gọi là tai sản. Điều 163 Bộ Luật Dân sự 2005 quy định: “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tai sản”. Khái niệm này được phát triển thêm tại Điều 105 Bộ Luật Dân sự 2015: “(1) tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; (2) Tai sản bao gồm bat động sản và động sản.
Bat động sản và động sản có thé là tai sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Như vậy, đối tượng được coi là tài sản không chỉ những vật có ở thực ở thời điểm hiện tại mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tai sản. Khái niệm cưỡng chê thi hành án dân sự: 10 Hoạt động THA là hoạt động quan trọng, có chức năng khôi phục, bảo vệ các quan hệ xã hội bị xâm phạm. Trong hoạt động THADS, thuyết phục và giáo dục người phải thi hành án tự nguyện thi hành bản án, quyết định của Tòa án là biện pháp được ưu tiên thực hiện.
Bởi, nếu người phải thi hành án tự nguyện thi hành sẽ giảm thiểu những gánh nặng về tâm ly, thời gian, chi phí cho các bên. Việc thi hành án sẽ được thực hiện một cách nhanh gon, kip thời, không gây ra những hậu quả xấu sau khi kết thúc. Nhưng trên thực tế, có rất nhiều trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án mà còn có hành vi chống đối, cản trở. Vì vậy, dé đảm bảo bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật có hiệu lực trên thực tế, ngoài biện pháp giáo dục, thuyết phục thì việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế là cần thiết dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Điều này đồng thời góp phần vào việc ổn định tình hình an ninh xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế. Theo cuốn từ điển Tiếng Việt thì khái nệm cưỡng chế được hiểu như sau: “Cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước dé bắt phải tuân theo” [58]. Còn cuốn Dai từ điền Tiếng Việt thì giải thích: Cưỡng chế là “Dùng quyên lực nhà nước dé bắt buộc người khác thực hiện những việc làm trai với ÿ muốn của họ. Cudng chế là một trong những phương pháp của yếu của hoạt động quản lý nhà nước ” [59].
Nhu vậy, cưỡng chế là một phương thức sử dung bảo đảm quyên lực nha nước. Trong hoạt động tư pháp, khi Tòa án nhân danh Nhà nước ra các bản án, quyết định về việc giải quyết những vụ việc thuộc thẩm quyền của minh thì bản thân sự phán quyết đó đã thé hiện quyền lực nhà nước, thé hiện sự cưỡng chế của nhà nước đối với các bên đương sự. Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định đó thì Nhà nước còn cần phải quy định các 11 biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc cụ thé khi các chủ thé có nghĩa vụ thi hành không tự nguyện thi hành mặc dù có đủ điều kiện. Tại Việt Nam, THA được chia thành hai lĩnh vực: Thị hành án hình sự và thi hành án dân sự.
Hình thức, tổ chức, thấm quyền, trình tự áp dụng giữa hai lĩnh vực này cũng hoàn toàn khác nhau. Do đó, quy định của pháp luật về biện pháp cưỡng chế trong hai lĩnh vực này cũng hoàn toàn khác nhau. Đối với thi hành án hình sự, bản thân các bản án, quyết định chính là cưỡng chế. Điều 30 Bộ Luật hình sự 2015 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.” Quy định này khăng định việc thi hành hình phạt đồng nghĩa với việc cơ quan có thâm quyền cưỡng chế người bị kết án thi hành hình phạt.
Cưỡng chế thi hành án hình sự mang tính tuyệt đối, đối tượng của hình phạt đó là tài sản, quyền tự do thân thé và có thé là tính mạng. Trong khi đó, cưỡng chế thi hành án dân sự lại mang những điểm riêng biệt. Đặc trưng của thi hành án dân sự là việc tô chức thi hành phần quyết định của Tòa án và các cơ quan, tô chức khác về tài sản hoặc hành vi, công việc nhất định khi mà các đương sự có điều kiện nhưng không tự nguyện thi hành. Thêm vào đó, pháp luật Việt Nam thừa nhận khi áp dụng biện pháp cưỡng chế chỉ có Cơ quan nhà nước có thâm quyền được tiến hành và nghiêm cấm việc đương sự tự mình áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.
Như vậy “Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự dùng quyên lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ, được chấp hành viên áp dung trong trường hop người phải thi hành án có diéu kiện thi hành mà không tự nguyện thi hành an”. ” 12 Theo quy định tại điều 71 Luật Thi hành án dân sự 2008 sửa đổi 2014, 2022 có 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án bao gồm: - _ Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; - _ Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; - __ Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, ké cả tài sản đang do người thứ ba git; - Khai thác tài sản của người phải thi hành án; - __ Buộc chuyền giao vật, chuyền giao quyền tài sản, giấy tờ; - — Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định. Tài sản bị cưỡng chế trong thi hành án dân sự là tài sản đã bị cơ quan thi hành án ra các quyết định và áp dụng các biện pháp cưỡng chế ké trên. Theo những phân tích trên, có thé hiểu khái niệm tài sản bị cưỡng chế trong thi hành án dân sự là: “Tdi sản bị cưỡng chế trong thi hành án là tài sản của người phải thi hành án bị cơ quan thi hành án ra quyết định và thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành án trong qua trình thi hành an”.
Khái niệm giải quyết tranh chấp liên quan tài sản bị cưỡng chế để thi hành án dân sự Giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp về tài sản bị cưỡng chế trong thi hành án dân sự nói riêng là hoạt động thường xuyên của TAND. Tuy nhiên, dưới góc độ học thuật, khái niệm giải quyết tranh chấp về tài sản bị cưỡng chế trong thi hành án dân sự ít được nghiên cứu và đưa ra định nghĩa chính thức. Theo từ dién tiếng Việt thì tranh chấp được hiểu là “sự không dong tinh, thong nhát giữa các bên về một van dé phát sinh trong moi quan hệ cua các 13 bên đó, đông thời có những sự tranh giành bất chấp, giành giật giữa các bên ” [58]. Trong quá trình thi hành án, dé đảm bảo thi hành án khi đương sự không tự nguyện thi hành án, cơ quan thi hành án ra quyết định và thực hiện các biện pháp cưỡng chế bao gồm: Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hôi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, ké cả tài sản dang do người thứ ba giữ; Khai thác tài sản của người phải thi hành án; Buộc chuyền giao vật, chuyền giao quyên tài sản, giấy tờ; Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
Tranh chấp về tài sản bị cưỡng chế trong thi hành án dân sự là sự bất đồng, tranh giành, giành dat tài sản, nhằm xác định chủ sở hữu tài sản giữa các bên trong quá trình thi hành án dân sự. Giải quyết tranh chấp về tài sản bị cưỡng chế trong quá trình THADS là hoạt động pháp lý được thực hiện bởi Tòa án, đương sự va các chu thể có liên quan khác theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định, pháp luật. Như vậy, Có thê hiểu “Giải quyết tranh chấp về tài sản bị Cưỡng chế trong thi hành án dân sự là tổng hop các hành vi của Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên, đương sự và các chủ thể khác theo trình tự, thu tục do luật định trong quá trình Toa an tiễn hành xét xử, đưa ra bản án quyết định và qua trình Cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện hoạt động thi hành án dân sự nhằm đảm bảo đảm quyên và lợi ích cũng như sự công bằng cho các bên đương sự đối với tài sản của minh”.