Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Một số vấn đề về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai 1. Khái niệm và đặc điểm của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai 1. Khái niệm tranh chấp đất đai Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những chính sách, pháp luật đất đai khác nhau, cho dù đất đai là tài sản thuộc sở hữu tư nhân, hay chỉ được giao quyền sử dụng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân,… thì ở nước ta, hiện tượng tranh chấp đất đai vẫn xảy ra phổ biến, diễn biến phức tạp, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và việc sử dụng đất nói riêng, gây ra nhiều bất ổn nhất định đối với đời sống kinh tế-xã hội.
Nhà nước phải ban hành nhiều quy định pháp luật để giải quyết mâu thuẩn, tranh chấp. Vậy, tranh chấp đất đai là gì? Khái niệm này tưởng chừng đơn giản nhưng lại có nhiều ý nghĩa trong việc phân định thẩm quyền, xác định nội dung cần giải quyết đối với các tranh chấp đất đai trong thực tiễn hiện nay. Trong thực tiễn xã hội hiện nay thì có rất nhiều loại tranh chấp xảy ra như: tranh chấp dân sự, tranh chấp thương mại, tranh chấp hành chính,…Trong quan hệ đất đai có thể phát sinh tranh chấp đất đai, tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền định đoạt đất, tranh chấp quyền sở hữu nhà và tài sản gắng liền với đất, tranh chấp về xác định ranh giới đất, tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức và tổ chức với tổ chức,…Vì vậy, tranh chấp đất đai rất đa dạng, phong phú và phức tạp. Hiện nay có rất nhiều khái niệm liên quan đến tranh chấp đất đai, các khái niệm này được nhìn nhận dưới nhiều góc độ, quan điểm: Theo Từ điển tiếng Việt – Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2010, “tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên” [39].
Theo khái niệm này, thì tranh chấp đất đai là việc đấu tranh giằng co khi có bất đồng trong lĩnh vực đất đai liên quan đến quyền lợi như quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất,… Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội thì:“Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai,… các chủ thể tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai” [31]. Còn theo giáo trình của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một hoặc những thửa đất nhất định. Tranh chấp đất đai có thể bao hàm cả tranh chấp về địa giới các đơn vị hành chính,…”[31]. Như vậy có thể nói rằng đứng trên các quan điểm khác nhau thì khái niệm về tranh chấp đất đai được hình thành và được diễn giải khác nhau.
Vì vậy, khái niệm tranh đất đai hiện nay rất đa dạng trong cách hiểu, quy định pháp luật và thực tiễn đời sống. Khoản 24 Điều 3 LĐĐ 2013 đã quy định về khái niệm tranh chấp đất đai như sau: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Có thể thấy, khái niệm tranh chấp đất đai quy định trong LĐĐ là một khái niệm mang tính pháp lý, bao trùm cả tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính. Đất đang có tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính.
Đất đang có tranh chấp được hiểu là loại đất mà giữa người sử dụng hợp pháp đất đó với các cá nhân khác, với Nhà nước hoặc giữa những người sử dụng chung mảnh đất đó với nhau đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất, về ranh giới, mục đích sử dụng đất hoặc về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất,… Đất đang có tranh chấp cũng có thể hiểu là đất tranh chấp giữa các chủ thể chưa xác định được chủ thể nào là người sử dụng đất hợp pháp [19]. Ở nước ta hiện nay, đất đai là tài nguyên đặc biệt thuộc quyền sở hữu của toàn dân, người dân chỉ có quyền sử dụng đất do Nhà nước cấp đất, giao đất và cho thuê đất, chứ không có quyền sở hữu đối với đất. Đất đai thuộc quyền sở hữu chung của toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Đất đai là tài nguyên và là nguồn lực quan trọng trong phát triển đất nước, đóng vai trò quan trọng trong an ninh quốc phòng, đảm bảo chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.
Theo quy định của LĐĐ 2013, thì đất đai thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Vì vậy, tranh chấp đất đai nói chung mang tính thường xuyên và phức tạp cần phải có sự quản lý, điều hành, giải quyết các tranh chấp phát sinh của cơ quan nhà nước trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đất đai. Khái niệm hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai Hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai tại TA được hiểu là quá trình giải quyết các tranh chấp đất đai tại cơ quan tiến hành tố tụng là TAND, bằng hình thức hòa giải hoặc đưa tranh chấp ra xét xử theo quy định pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa ánsẽ tiến hành mời các đương sự lên hòa giải, đây là giai đoạn bắt buộc do Tòa án tiến hành và chủ trì. Theo đó, nếu hòa giải thành, mà sau 07 ngày các bên không có ý kiến gì về việc này nữa thì tranh chấp chính thức kết thúc, trường hợp nếu hòa giải không thành thì Tòa án sẽ đưa ra xét xử. Trong quá trình xét xử, các bên vẫn được quyền thỏa thuận với nhau để có thể giải quyết vụ án. Và vẫn có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.Điều này khẳng định vai trò quan trọng của cơ quan tố tụng trong việc giải quyết các tranh chấp về đất đai đảm bảo quyền tự quyết nhưng cũng phải tuân theo quy định pháp luật.
Để hiểu rõ hơn công tác hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND, tác giả đã nghiên cứu và làm rõ các khái niệm như sau: Theo Từ điển tiếng Việt ghi nhận: “Hòa giải là thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ôn hòa, việc hòa giải được tiến hành sau khi thương lượng giữa các bên đã không đạt được kết quả. Việc hòa giải thường được thông qua bên thứ ba gọi là bên hòa giải” [39]. Theo Từ điển Luật học ghi nhận: “Hòa giải là sự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác. Hòa giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẩn nhỏ mà biến thành việc hình sự”[12].
Từ cách hiểu về hòa giải, có thể thấy rằng, hòa giải tranh chấp đất đai được hiểu theo nghĩa là hòa giải các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất. Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai là biện pháp pháp lý giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, theo đó bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian trong việc giúp các bên có tranh chấp tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến quyền sử dụng đất và thương lượng với nhau về việc giải quyết quyền lợi của mình. Đặc điểm của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai Có thể nói, tranh chấp đất đai là một dạng đặc biệt của tranh chấp dân sự, do có đối tượng của tranh chấp là quyền sử dụng đất. Do vậy, bên cạnh những đặc điểm chung của hòa giải tranh chấp dân sự, thì việc hòa giải tranh chấp đất đai còn có những đặc trưng riêng như đối tượng của tranh chấp gắn liền với quyền sử dụng đất nên việc hòa giải thường phải do cơ sở hoặc Tòa án nơi có tài sản tranh chấp tiến hành; đối tượng của tranh chấp có thể trải qua nhiều biến động theo thời gian với các chính sách pháp luật khác nhau, do vậy, nội dung của tranh chấp thường phức tạp, đòi hỏi người hòa giải phải nắm vững nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và chính sách pháp luật về đất đai trong từng thời kỳ lịch sử.
Cụ thể: (i) Việc hòa giải được tiến hành tại địa bàn nơi có đất tranh chấp. Tranh chấp đất đai luôn gắn liền với quyền sử dụng đất nên việc hòa giải thường phải được tiến hành tại nơi có tài sản tranh chấp. Thông thường tổ hòa giải, chính quyền địa phương hoặc Tòa án nơi có tranh chấp đất đai sẽ có điều kiện tốt nhất để tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử và hiện trạng pháp lý cũng như thực tế của tài sản tranh chấp. Do vậy, các chủ thể này sẽ có điều kiện tốt nhất để tiến hành hòa giải một cách có hiệu quả.
(ii) Việc hòa giải tranh chấp đất đai phải do các chủ thể am hiểu pháp luật về đất đai, nắm vững nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và nguyên nhân tranh chấp giữa các bên tiến hành. Tranh chấp đất đai thường là tranh chấp về tài sản có giá trị lớn, quyền sử dụng có thể đã được dịch chuyển qua nhiều chủ thể, có nguồn gốc phức tạp nên mức độ tranh chấp thường quyết liệt, do vậy, chủ thể trung gian tiến hành hòa giải phải là người am hiểu pháp Luật Đất đai và các ngành luật có liên quan, nắm vững nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và nguyên nhân tranh chấp giữa các bên. Tranh chấp đất đai có thể gắn với dòng họ, những người dân trong cùng một địa phương nên để việc hòa giải có hiệu quả thì tùy theo trường hợp mà hòa giải có thể được trao cho cộng đồng, chính quyền địa phương hoặc cơ quan tư pháp.