Chương 1: Những vấn đề chung về tranh chấp quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại cơ quan hành chính. Chương 2:Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và thực tiễn áp dụng tại cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại cơ quan hành chính tỉnh Phú Thọ. 7 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SƢ̉ DỤNG ĐẤT VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SƢ̉ DỤNG ĐẤT TẠI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH 1.
Những vấn đề chung về tranh chấp quyền sử dụng đất 1. Khái niệm quyền sử dụng đất Đất đai là một bộ phận không thể tách rời với lãnh thổ quốc gia. Ngoài ý nghĩa là cơ sở vật chất thì lãnh thổ, đất đai còn có ý nghĩa đối với việc tồn tại và duy trì một ranh giới quyền lực nhà nƣớc trong một cộng đồng dân cƣ nhất định. Không chỉ có vậy, đối với con ngƣời, nếu đƣợc khai thác, sử dụng hợp lý, đất đai với ý nghĩa là một tài nguyên vô tận sẽ trở thành một loại tƣ liệu sản xuất có giới hạn về không gian, diện tích nhƣng vô hạn về thời gian sử dụng và khả năng sinh lời.
Chính bởi vậy, nhằm đảm bảo cho việc quản lý và khai thác tối đa các lợi ích mà đất đai mang lại cho con ngƣời, pháp luật của nƣớc ta cũng có những quy định chặt chẽ về QSDĐ của cá nhân, tổ chức, hộ gia đình nhằm xác lập cho những ngƣời trực tiếp sử dụng đất những quyền và lợi ích nhất định, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho ngƣời sử dụng đất (NSDĐ) phát huy năng lực tự chủ trong quá trình sử dụng đất. Cụ thể: Tại Điều 54 Hiến pháp năm 2013 của nƣớc ta quy định: “1. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.
Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ. Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật.
Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai”. Qua các thời kỳ, quy định về quyền sở hữu đất đai đã đƣợc thể chế hóa bằng các quy định cụ thể của Luật Đất đai; cụ thể: tại Điều 1 Luật Đất đai năm 1987, Điều 1 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”; cũng trên tinh thần đó, quyền sở hữu đất đai đƣợc khẳng định một nần nữa tại Điều 5 Luật Đất đai năm 2003: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Kế thừa những quan điểm, tƣ tƣởng và đƣờng lối đó của Đảng, Nhà nƣớc, Luật Đất đai hiện hành - Luật Đất đai năm 2013 tại Điều 4 đã khẳng định rõ hơn quyền sở hữu đất đai. Theo đó, Điều 4 Luật này khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Cùng với đó, với vai trò chủ sở hữu đại diện, Nhà nƣớc có quyền định đoạt đất đai thông qua hàng loạt các quyền nhƣ quyền quyết định mục đích, thời hạn, hạn mức sử dụng đất; quyền phân bổ đất đai thông qua các hoạt động giao đất cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; thực hiện quản lý nhà nƣớc ở cả phƣơng diện hành chính và kinh tế thông qua việc điều tiết các nghĩa vụ tài chính đối với NSDĐ, điều tiết các thu nhập đối với NSDĐ và thực hiện quyền giải quyết các tranh chấp, bất đồng, các khiếu nại, tố cáo về đất đai. 9 z Bằng các quy định về quyền sở hữu đất đai ghi nhận tại Điều 54 Hiến pháp 2013 và Điều 4 Luật Đất đai năm 2013, Nhà nƣớc đã trao QSDĐ cho các tổ chức và cá nhân, hộ gia đình thông qua các hình thức nhận giao đất không thu tiền, giao đất có thu tiền, cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ và họ trở thành ngƣời có QSDĐ chứ không phải ngƣời có quyền sở hữu đất đai. Khi chuyển giao đất cho NSDĐ, tùy thuộc vào các hình thức sử dụng đất khác nhau mà Nhà nƣớc cho phép các chủ thể sử dụng đất khác nhau đƣợc hƣởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nƣớc.
Theo từ điển giải thích Luật học thì :“Quyền sử dụng đất của Nhà nước là quyền khai thác các thuộc tính có ích từ đất để phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Nhà nước thực hiện quyền sử dụng đất một cách gián tiếp thông qua việc giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng. Các tổ chức, cá nhân này khi sử dụng có nghĩa vụ đóng góp vật chất cho Nhà nước dưới dạng thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất” [41]. Theo định nghĩa này thì QSDĐ của Nhà nƣớc không đƣợc thực hiện trực tiếp bởi Nhà nƣớc mà gián tiếp thực hiện qua chủ thể là NSDĐ, là ngƣời đƣợc Nhà nƣớc cho phép sử dụng đất thông qua các hình thức pháp lý khác nhau và trao cho họ những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể trong quá trình khai thác QSDĐ.
Nhƣ vậy, những giá trị và khả năng sinh lợi của đất, những thuộc tính có ích trên từng mảnh đất và ở phạm vi toàn bộ đất đai của quốc gia có đƣợc khai thác và sử dụng có hiệu quả hay không là tùy thuộc vào NSDĐ - ngƣời trực tiếp thực hiện QSDĐ theo sự quản lý của Nhà nƣớc. Tuy nhiên, không phải bất kỳ chủ thể nào cũng có thể trở thành chủ thể sử dụng đất và đƣơng nhiên có QSDĐ, mà quyền đó phụ thuộc vào sự cho phép của Nhà nƣớc với tƣ cách là chủ sở hữu. Đến đây có thể thấy rằng QSDĐ vừa mang tính phụ thuộc (nếu xem xét chúng với ý nghĩa một trong ba quyền năng của chủ sở hữu) và vừa mang tính độc lập (nếu xem xét chúng với ý nghĩa là quyền khai thác trực tiếp các giá trị của đất của từng chủ thể sử 10 z dụng đất cụ thể). Tuy không đồ ng nhấ t giƣ̃a quyề n sở hƣ̃u đấ t đai và qu yề n sƣ̉ dụng đất nhƣng quyền sở hữu đất đai đƣợc chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho ngƣời sƣ̉ du ̣ng đấ t thƣ̣c hiê ̣n và trở thành mô ̣t loa ̣i quyề n tài sản thuô ̣c về ngƣời sƣ̉ du ̣ng đấ t.
Với ý nghĩa đó, dù không phải thay đổi “chủ sở hữu” hay nói cách khác là thay đổi đại diện chủ sở hữu nhƣng có thể thấy QSDĐ của mỗi cá nhân, hộ gia đình hay tổ chức là quyền tài sản tƣ, cần đƣợc Nhà nƣớc tôn trọng và phải đƣợc pháp luật bảo vệ bởi đấ t đai luôn thuô ̣c sở hƣ̃u của toàn dân, quyề n sƣ̉ dụng đất thuộc về cá nhân hoặc tổ chức có quyền sử dụng hợp pháp, Nhà nƣớc chỉ đứng ra làm đại diện sở hữu mà thôi. Nhƣ vậy, chủ thể thực hiện QSDĐ với tƣ cách là chủ thể sử dụng đất chứ không phải với tƣ cách chủ sở hữu. Với tƣ cách là ngƣời đại diện chủ sở hữu, Nhà nƣớc thống nhất quản lý đất đai thông qua các quyền đƣợc pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện, đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Tuy nhiên, không phải tự bản thân nhà nƣớc trực tiếp chiếm hữu, sử dụng đất đai để khai thác những thuộc tính vốn có của đất mà Nhà nƣớc giao cho NSDĐ sử dụng tức là giao cho NSDĐ một trong ba quyền năng của mình đó là QSDĐ.
Nắm trong tay quyền sử dụng diện tích đất mà nhà nƣớc giao cho, bên cạnh QSDĐ ổn định, lâu dài, NSDĐ còn đƣợc thực hiện các giao dịch QSDĐ của mình nhƣ chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, thế chấp, góp vốn. bằng giá trị quyền sử dụng nhằm đảm bảo quyền lợi thiết thực cho mình. Để đảm bảo các quyền trên của NSDĐ đƣợc thực hiện trên thực tế, pháp luật nƣớc ta cũng xác lập tiền đề và điều kiện để QSDĐ của mỗi ngƣời dân đƣợc đảm bảo. Từ đây, chế định về QSDĐ đƣợc hình thành.
Từ những phân tích trên ta có thể đƣa ra khái niệm quyền sử dụng đất nhƣ sau: Quyền sử dụng đất là chỉ những khả năng của một chủ thể được Nhà nước trao, thực hiện hoặc được hưởng những quyền nhất định khi khai thác và sử dụng đất để phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của đời 11 z sống xã hội; những quyền đó được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trên thực tế. Từ khái niệm trên ta có thể thấy chế định QSDĐ có những đặc trƣng sau: Thứ nhất, chế định QSDĐ phát sinh trên cơ sở chế độ sở hữu đất đai. Tại Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Với tƣ cách là đại diện chủ sở hữu, nhà nƣớc có quyền định đoạt toàn bộ vốn đất đai trên phạm vi cả nƣớc.
Nhà nƣớc có đầy đủ các quyền năng của một chủ sở hữu đối với tài sản là đất đai, tuy nhiên riêng QSDĐ nhà nƣớc lại giao cho nhân dân sử dụng. Nhƣ vậy, QSDĐ đƣợc chuyển giao từ chủ sở hữu toàn dân sang ngƣời đại diện là Nhà nƣớc và từ đó ngƣời đại diện giao QSDĐ cho các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức. Trong quá trình sử dụng diện tích đất mà nhà nƣớc giao cho, NSDĐ đƣợc phép thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật. Thứ hai, QSDĐ của NSDĐ mang tính phụ thuộc vào Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu.