CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐÒNG TÍN DỤNG CÓ BẢO ĐẢM BẰNG TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.1, Những vấn đề chung về tranh chấp hợp đồng và tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản 1.1, về khái niêm họp đồng vay tài sản: Theo quy định cùa Bộ luật dân sự 2015 quy định: Hợp đồng vay tài sản là sự thoa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay. Khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi: Bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào.
Nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điếm nhận lại tài sản. Còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý. Đối với họp đồng vay có kỳ hạn và không có lài thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý. Còn bên cho vay chi được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.
Đối với họp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trù’ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.2, Khái niệm hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản Trong quá trình giao dịch cho vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, các bên phải ký kết và thực hiện họp đồng tín dụng - với tư cách là một loại họp đồng vay tài sản. 8 Hiện nay, mặc dù trong khoa học pháp lý vẫn tồn tại khái niệm hợp đồng tín dụng nhưng trong pháp luật thực định (chủ yếu là các văn bản pháp luật chuyên ngành về ngân hàng), khái niệm hợp đồng tín dụng đã không còn được đề cập đến nữa mà thay vào đó, nhà làm luật sử dụng thuật ngữ “thỏa thuận cho vay” để chỉ mối quan hệ giao dịch giữa bên cho vay là tố chức tín dụng với bên vay là tổ chức, cá nhân. Trước đây, Điều 17 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định: “Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận”.
Tuy nhiên, hiện nay văn bản này đã hết hiệu lực kể từ ngày 15/03/2017 và bị thay thế bời Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, theo đó văn bản này không còn đề cập đến khái niệm hợp đồng tín dụng nữa mà sử dụng thuật ngữ “thỏa thuận cho vay” trong một số điều khoản cụ thể của Thông tư này [23, tr. Trong khoa học pháp lý, họp đồng tín dụng được định nghĩa là thoả thuận bằng văn bản giữa tồ chức tín dụng (gọi là bên cho vay) với khách hàng là tổ chức, cá nhân (gọi là bên vay), theo đó tồ chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiền cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm. Với cách định nghĩa này, họp đồng tín dụng thể hiện rõ hai yếu tố: a) về phương diện hình thức, sự thoả thuận giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng (bên đi vay) phải được thể hiện bằng văn bản; b) về phương diện nội dung, bên cho vay đồng thuận để bên vay được sử dụng một số tiền của mình trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả, dựa trên sự♦ tín nhiệm. ♦ 9 Cũng tiêp cận từ khía cạnh khoa học pháp lý, hợp đông tín dụng được cho rằng có một số đặc trưng cơ bản như: (i) Một bên chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ các điều kiện luật định với tư cách là bên cho vay.
Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thoả mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật hoặc do tổ chức tín dụng quy định. (ii) Đối tượng của hợp đồng tín dụng là tiền và luôn được xác định bằng số tiền cụ thể, đồng thời phải được các bên thoả thuận, ghi rõ trong hợp đồng. (iii) Hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bên cho vay. (iv) Trong hợp đồng tín dụng, nghĩa vụ chuyến giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay.
Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mỉnh (bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn cả gốc và lài. Gần đây, trong quá trình hoàn thiện pháp luật, nhà làm luật Việt Nam có xu hướng thay đổi quan niệm, theo đó không sử dụng thuật ngữ “họp đồng tín dụng” mà sử dụng thuật ngữ “thỏa thuận cho vay”, như đã đề cập ở trên. Điều khá đáng tiếc là tuy sừ dụng thuật ngừ “thỏa thuận cho vay” để thay thế cho thuật ngữ “hợp đồng tín dụng” nhưng các nhà làm luật cũng không đưa ra một định nghĩa chính thức nào về thỏa thuận cho vay mà chỉ quy định nguyên tắc chung là “thoa thuận cho vay phải được lập thành văn bản, trong đó tối thiểu phải có các nội dung như là những điều khoản của thỏa thuận này. Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn giao dịch giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, có một loại họp đồng tín dụng có tính cách phổ biến, đó chính là họp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản.
10 Vậy, hợp đông tín dụng có bảo đảm là gỉ và tại sao các bên lại thường hay ký kết các họp đồng tín dụng có bảo đảm bàng tài sản? Đối với vấn đề thứ nhất (họp đồng tín dụng có bảo đảm là gì), câu trả lời có lẽ cần được xác định bằng cách lý giải từ chính khái niệm hợp đồng tín dụng, về phương diện lý thuyết, cần thấy rằng hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản thực chất cũng là một loại hợp đồng tín dụng nhưng điểm đặc thù của loại họp đồng tín dụng này là luôn có nội dung thỏa thuận giữa các bên về việc bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tiền vay bàng tài sản của bên vay hoặc bên thứ ba. Thỏa thuận về bảo đảm tiền vay có thể được thể hiện dưới dạng một điều khoản về bảo đảm tiền vay trong họp đồng tín dụng, hoặc được thể hiện dưới dạng là một hợp đồng bảo đảm riêng, đính kèm với họp đồng tín dụng. Điều cần lưu ý về sự khác biệt giữa hai trường họp này là ở chỗ, nếu thỏa thuận về bảo đảm tiền vay được thể hiện dưới dạng một điều khoản cụ thể trong họp đồng tín dụng thì nó không tách rời và không độc lập với họp đồng tín dụng. Còn nếu thoa thuận về bảo đảm tiền vay được thể hiện dưới dạng là một hợp đồng bảo đảm (giao dịch bảo đảm) thi họp đồng này vốn dĩ là một hợp đồng độc lập hoàn toàn về phương diện hiệu lực pháp lý với hợp đồng tín dụng, chứ không phải là một phần không thể tách rời của hợp đồng tín dụng, mặc dù giữa hai họp đồng này luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau và phụ thuộc vào nhau.
Đối với vấn đề thứ hai (tại sao các tổ chức tín dụng và khách hàng vay vốn thường hay ký kết hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản), câu trả lời có lè cần bắt đầu từ bản chất của hợp đồng tín dụng. Thật vậy, về bản chất kinh tế, hợp đồng tín dụng là một quan hệ phân phối, theo đó bên cho vay chuyển giao tài sán của mình (số tiền vay) cho bên vay sử dụng trong một thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả, bao gồm trả nợ gốc và có thể có lãi. Chính vì tài sản của bên cho vay đã chuyển giao cho bên vay sử dụng nên không thể chắc chắn rằng tài sản này sẽ quay trở về chủ sở hữu cũ là bên cho vay khi kết thúc thời hạn vay vốn nên đề đảm bảo an toàn cho quyền lợi của minh, bên cho vay thường yêu cầu bên vay phải có tài sản bảo đảm cho khoản vay và khi đó, khoản vay này trở thành khoản vay có bảo đảm bằng tài sản. về khía cạnh pháp lý, khi các bên tham gia quan hệ tín dụng đã thỏa 11 thuận với nhau vê việc bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiên vay thì khi đó đã phát sinh các quan hệ pháp luật giữa họ với nhau, bao gồm quan hệ hợp đồng tín dụng và quan hệ hợp đồng bảo đảm tiền vay.