Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài luận án. Những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng Toà án. Thực trạng và thực tiễn pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng Toá án ở việt nam.
Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng Toà án. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Phương thức giải quyết tranh chấp giữa NTD với thương nhân đã quá quen thuộc trên thế giới từ khi các quyền và lợi ích hợp pháp của NTD bị xâm phạm, pháp luật BVNTD cũng theo đó mà phát triển, đồng thời các phương thức tiếp cận nghiên cứu các khía cạnh PLBVQLNTD và vấn đề giải quyết tranh chấp trong tiêu dùng cũng được nhiều nhà làm luật tiến hành nghiên cứu ở các khiá cạnh, các phương diện khác nhau, họ đã thể hiện tư tưởng, quan điểm của mình theo từng phương thức khác nhau. Những công trình nghiên cứu về lý luận bảo vệ người tiêu dùng và liên quan đến các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng.
Những công trình nghiên cứu về lý luận bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng liên quan đến các phương thức GQTC tiêu dùng, cụ thể một số công trình nghiên cứu sau đây có nội dung nghiên cứu chung đối với vấn đề lý luận về tiêu dùng. Những công trình này là những công trình quan trọng để nêu ra cơ sở lý luận trong tiêu dùng, thông qua đó một số tác giả đã đưa ra quan điểm của mình. Các quan điểm này rất quan trọng đối với việc bảo vệ NTD và liên quan đến phương thức GQTC trong tiêu dùng. - Đề tài nghiên cứu: “Bảo vệ người tiêu dùng thông qua phương thức giải quyết tranh chấp tại Toà án” [40].
Tác giả Nguyễn Thị Phương Châu, năm 2010. Trong bài viết này tác giả đề cập: NTD nên bao quát và hiểu theo nghĩa rộng hơn, NTD cần phải bao gồm kể cả tổ chức và cá nhân. Nếu tổ chức mua hàng hóa và dịch vụ cho nhân viên mình sử dụng thì cũng gọi là NTD, tuy nhiên điều kiện để tổ chức trở thành NTD đó chính là: tổ chức không thực hiện việc kinh doanh. Nêu lý do thiết yếu cần phải có đối với vấn đề giải quyết tranh chấp bằng phương thức Tòa án, cùng với một số căn cứ dựa theo các nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng, đặc 8 điểm tranh chấp tiêu dùng với tổ chức, cá nhân, và vai trò quan trọng của Toà án đối với việc giải quyết tranh chấp trong tiêu dùng.
Ngoài ra tác giả đã đưa ra thực trạng của các vấn đề về giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, và thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án đối với các tranh chấp giữa NTD với các tổ chức, cá nhân kinh doanh. - Đề tài nghiên cứu: “Bảo vệ người tiêu dùng thông qua các phương thức giải quyết tranh chấp”. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, 2015 [51]. Trong bài viết này tác giả đưa ra, hiện nay chưa hề có khái niệm bảo vệ quyền lợi NTD được quy định chính thức ở các văn bản pháp luật hiện hành.
Nêu ra cơ sở lý luận dựa theo chủ trương chính sách, quyền của NTD bị xâm phạm, họ luôn có nguy cơ bị xâm hại, vì thế vai trò và sự can thiệp của nhà nước rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD, vai trò này không thể thiếu. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là nhiệm vụ, là các yêu cầu cần thiết của mỗi quốc gia trên thế giới, vì thế đối với các nước đang phát triển đều có PLBVQLNTD. Tác giả còn đề cập về thực trạng của pháp luật hiện nay, và thực trạng áp dụng pháp luật về vấn đề BVQLNTD bằng các cách thức giải quyết tranh chấp như: trọng tài, thương lượng, hòa giải, Tòa án. Từ đó tác giả đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD ngày càng tốt hơn.
- Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Cao Xuân Quảng (2021), “Cải cách pháp luật về trách nhiệm của thương nhân trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” [96]. Tác giả đã phân tích đánh giá làm rõ bản chất mối quan hệ giữa thương nhân với NTD trong việc bảo vệ quyền lợi NTD. Đồng thời phân ra trách nhiệm của thương nhân theo nhóm trong việc bảo vệ quyền lợi NTD. Tác giả so sánh đối chiếu, đánh giá một số quy định pháp luật, Xem xét tính phù hợp như thế nào trên thực tế.
Việc thực thi các quy định này trong thời gian qua như thế nào. Từ đó đưa ra kiến nghị các giải pháp để cải cách các quy định pháp luật về trách nhiệm của thương nhân trong việc bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng. - Bài viết "Một số vấn đề pháp lý cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay", tác giả Lã Trường Anh, tạp chí Nhân Lực Khoa Học Xã Hội, 9 số 03 (34) 2016 [29]. Tác giả để cập đến vấn đề về khái niệm người tiêu dùng bao gồm cá nhân, gia đình, và tổ chức.
Quan điểm của tác giả khó có thể cho rằng tổ chức là bên ở vị thế yếu cho việc cần được bảo vệ, bởi lẽ tổ chức mang tính chất quy mô, nó là tập hợp người có bộ máy, cơ cấu chặt chẽ rất vững chắc. Hơn thế nữa, tổ chức có sự am biết nhất định ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Tổ chức có khả năng xử lý thông tin và tìm lực kinh tế, dù gì thì tổ chức cũng tốt hơn nhiều so với mỗi cá nhân đơn lẽ, vì vậy không có lý do gì cho rằng, tổ chức cũng là người tiêu dùng, và không có lý do gì cho rằng tổ chức từ ở vị thế mạnh lại chuyển sang thành người tiêu dùng ở vị thế yếu cần phải được bảo vệ.điều này rất phi lý. - Bài viết: "Một số vấn đề lý luận xung quanh luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng", tác giả Nguyễn Như Phát, tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2 (262), 2010.
Tác giả đề cập đến vấn đề tự do và bình đẳng khó có thể đạt được trong quan hệ tiêu dùng vì "thông tin bất cân xứng" mà NTD tham gia vào [86, tr28]. Pháp luật BVQLNTD là loại pháp luật thiên về pháp luật tư đặc biệt, điều chỉnh các mối quan hệ tư, quan hệ tư tức là quan hệ về mua bán, nên nó có nhiều ngoại lệ hơn so với pháp luật thông thường. Đơn giản là vì nó có yếu tố chi phối, có cả yếu tố can thiệp thiên về quan hệ tiêu dùng nhiều hơn quan hệ dân sự truyền thống. Quan hệ tiêu dùng có các tiềm ẩn về yếu tố ngoại lệ của pháp luật dân sự thông thường nên việc tạo ra PLBVQLNTD cần phải có yếu tố ngoại lệ ở pháp luật dân sự.
PLBVQLNTD là loại pháp luật có tính chất can thiệp, nó can thiệp vào quyền tự do của nhà cung cấp.còn quan hệ tiêu dùng chính là quan hệ dân sự được Bộ Luật dân sự điều chỉnh, vì thế cần phải tuân theo các quy tắc dân sự như các nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc tự do thoả thuận, cho đến nguyên tắc tuân theo pháp luật và cả nguyên tắc hòa giải. Pháp luật tạo sự công bằng cho các bên. Tác giả đề cập vấn đề kiện tập thể - tức là nhân danh vì lợi ích chung, cụ thể lợi ích tập thể, chứ không phải tập thể là có nhiều người. Để tạo ra được tính công bằng, và để bảo vệ NTD cần chung tay góp sức của toàn xã hội.Reich, “Protection of Consumers' Economic Interests by the EC”, 1992.
Tác giả đề cập tới vấn đề hội đồng ghi nhận một xúc tiến mới trong chính sách bảo 10 vệ người tiêu dùng, nhắm vào ba mục tiêu chính: những sản phẩm mà người ta trao đổi có thể tuân theo tiêu chuẩn về sức khỏe, an toàn, người tiêu dùng có thể hưởng lợi từ thị trường chung, các mối quan tâm của người tiêu dùng cũng phải được quan tâm đến trong các chính sách Châu Âu khác. Tác giả cũng đề cập đến vấn đề việc thảo luận xem việc tiêu dùng như là một tiến trình hợp nhất thị trường, sự lựa chọn của người tiêu dùng, hơn hẳn các quyền lợi người tiêu dùng, việc sắp nhập lại sẽ nổi trội hơn, vào tháng 12/1986 Hội đồng chấp nhận giải pháp đối với vấn đề hợp nhất về chính sách tiêu dùng trong các chính sách chung khác [153]. - Mudah Murah & Cepat, “Consumer Protection (TTPM) Tribunal Tuntutan Pengguna, Malaysia”, 2008. Trong cuốn sách này tác giả đề cập vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng phương thức tối ưu nhất, tiết kiệm về thời gian.
Tác giả đề cập đến phương thức thủ tục rút gọn của Toà án vì những thủ tục thưa kiện bằng Toà án theo dân luật thông thường quá dài dòng, người tiêu dùng một khi khởi kiện tốn rất nhiều thời gian, công sức, và chi phí rất lớn, nên cần phát huy thủ tục rút gọn của Toà án. Tác giả đề cập đến vấn đề qui định phương thức thay thế lựa chọn của người tiêu dùng yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với hàng hoá và dịch vụ được người tiêu dùng mua với chi phí thấp không đáng kể. Nguyên nhân chính mà người tiêu dùng không thích kiện tụng ở Toà dân sự thông thường bao gồm thủ tục rườm rà phức tạp, chi phí cao, tốn thời gian, đặc biệt đối với hàng hoá và dịch vụ có giá trị thấp. [152] - Giesela Ruhl, “Consumer Protection in Choice of Law”, 2011.
Nhìn chung trong cuốn sách này tác giả đề cập tới vấn đề bảo vệ tiêu dùng thông qua phương thức chọn luật để giao dịch, giải quyết tranh chấp trong hợp đồng, tác giả so sánh đối chiếu một số mô hình về việc chọn pháp luật bao gồm bên không được phép chọn luật, bên được phép chọn luật có giới hạn, bên giảm bớt tác động của việc chọn pháp luật. Ví dụ mô hình ở Thuỵ Sĩ không cho phép lựa chọn pháp luật để giao dịch trong hợp đồng tiêu dùng.