Chương 1. Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Thực trạng pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và thực tiễn thi hành tại Việt Nam. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và nâng cao hiệu quả thi hành tại Việt Nam.
9 Chương1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA BỘ TRƯỜNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA BỘ TRƯỜNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM 1. Lý luận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường 1. Khái niệm thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường i) Khái niệm về giải quyết tranh chấp đất đai Tranh chấp là những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng giữa các bên trong một quan hệ xác định. Giải quyết tranh chấp là giải quyết, hòa giải những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột đó, khiến các bên tranh chấp không còn bất đồng, mâu thuẫn với nhau nữa.
Đó cũng là mục đích cao nhất của việc giải quyết tranh chấp. Nhưng không phải lúc nào hoạt động giải quyết cũng đạt được kết quả là hóa giải những mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên, bởi khi một bên đạt được lợi ích của mình thì bên kia sẽ ở vào thế bất lợi. Đặc biệt, đối với tranh chấp đất đai liên quan trực tiếp đến tài sản có giá trị lớn, dung hòa được lợi ích giữa các bên có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vì vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai, cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết không chỉ dựa trên những quy định của pháp luật mà còn đặc biệt chú ý đến phong tục, tập quán ở mỗi địa phương và quá trình sử dụng đất của người dân để giải quyết tranh chấp đất đai hợp tình, hợp lý, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên, khiến các bên tâm phục, khẩu phục và đạt được sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư.
10 Theo Từ điển Giải thích Luật học (Phần Luật đất đai, Luật lao động, Tư pháp quốc tế) của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 1999: Giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại; đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai”[26,tr. Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai được hiểu là một phương thức của con người nhằm tìm ra một giải pháp hợp lý giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân liên quan đến việc quản lý và sử dụng đất. Bên cạnh các đặc điểm của giải quyết tranh chấp, giải quyết tranh chấp đất đai có một số đặc trưng cơ bản sau: Một là, giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung của quản lý nhà nước về đất đai. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai là cơ quan quản lý đất đai.
Việc giải quyết tranh chấp đất đai căn cứ vào các quy định của pháp luật; vào các chứng cứ, tài liệu, hồ sơ địa chính được lưu giữ tại trụ sở cơ quan quản lý đất đai. Hai là, đất đai là một vấn đề nhạy cảm, phức tạp và có tầm quan trọng trên nhiều phương diện.Việc quản lý và sử dụng đất trải qua nhiều biến động, xáo trộn qua các thời kỳ lịch sử nên tranh chấp đất đai rất phức tạp. Vì vậy, hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, khuyến khích các tổ chức quần chúng ở cơ sở, người dân tham gia giải quyết tranh chấp đất đai. Trong giải quyết tranh chấp đất đai, Nhà nước coi trọng và đề cao các phương thức thương lượng, hòa giải nhằm giải quyết bất đồng, mâu thuẫn, duy trì ổn định chính trị- xã hội, đảm bảo sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân.
Ba là, tùy từng trường hợp tranh chấp đất đai và chủ thể tham gia mà việc giải quyết tranh chấp đất đai đặt ra những yêu cầu khác nhau; cụ thể: 11 Đối với tranh chấp đất đai giữa các doanh nghiệp, chủ thể đầu tư kinh doanh thì việc giải quyết tranh chấp đất đai phải dứt điểm nhanh chóng không dây dưa kéo dài làm ngưng trệ, đình đốn hoạt động sản xuất gây thiệt hại về lợi ích vật chất cho chủ thể kinh doanh. Đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân với nhau thì việc giải quyết tranh chấp đất đai đề cao việc thương lượng, hòa giải; bởi phương thức này phù hợp với đặc điểm, tâm lý, thị hiếu và truyền thống văn hóa truyền thống của người dân (đặc biệt là người dân sinh sống ở khu vực nông thôn, người dân ở vùng sâu, vùng xa). Đối với tranh chấp đất đai giữa đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở khu vực Tây Nguyên thì việc giải quyết tranh chấp đất đai dựa vào các quy ước của luật tục; vai trò của già làng, người có uy tín trong cộng đồng. Do luật tục, người có uy tín trong cộng đồng, già làng chiếm vị trí quan trọng, tác động đến tâm lý, suy nghĩ, tình cảm và hành vi ứng xử của đồng bào dân tộc thiểu số Ê đê, J’rai và Ba na ở Tây Nguyên.
Bốn là, giải quyết tranh chấp đất đai chịu sự chi phối của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Điều này có nghĩa là Nhà nước không thừa nhận và không xem xét giải quyết các tranh chấp về đòi lại đất đã chia chấp cho người khác khi thực hiện chính sách đất đai qua các thời kỳ của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Công hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bởi lẽ, các tranh chấp này vi phạm chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Năm là, do cấu trúc xã hội của Việt Nam dựa trên nền văn minh lúa nước; con người Việt Nam coi trọng tình cảm, sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân .Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp đất đai không chỉ dựa vào quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn căn cứ vào phong tục, tập quán, thị hiếu.
của người sử dụng đất ở các vùng, miền trong cả nước v. 12 ii) Khái niệm về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT. Tuy nhiên, các Luật này không đưa ra cách giải thích chính thức khái niệm về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT; thậm chí trong các từ điển luật học cũng không đưa ra định nghĩa về khái niệm này. Dựa trên khái niệm về giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT; chúng ta có thể hiểu khái niệm thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT như sau: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT là thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ TN&MT trong phạm vi, quyền hạn của Bộ trường Bộ TN&MT nhằm giải quyết bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa hai hay nhiều bên trong quan hệ đất đai tuân thủ các quy định của pháp luật đất đai.
Bên cạnh các đặc điểm chung của giải quyết tranh chấp đất đai, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT còn có một số đặc điểm riêng cơ bản sau đây: Một là,thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT mang tính đơn nhất và duy nhất. Có nghĩa là theo phương thức này, Bộ trưởng Bộ TN&MT là người duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Như vậy, người chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Hai là,thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT là phương thức giải quyết cuối cùng và ở mức độ cao nhất trong hệ thống các cơ quan hành chính về giải quyết tranh chấp đất đai.
Việc giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT chủ yếu 13 là xem xét, đánh giá lại và đưa ra phán quyết về những kết quả giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan hành chính cấp dưới mà cụ thể là của UBND cấp huyện và UBND cấp huyện bị đương sự khiếu nại. Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT mang tính chuyên môn rất cao; bởi lẽ, Bộ TN&MT là cơ quan chuyên ngành về quản lý đất đai ở thang bậc cao nhất của hệ thống cơ quan hành chính về quản lý nhà nước đối với đất đai ở nước ta- Nơi tập trung các chuyên gia, chuyên viên có năng lực, trình độ chuyên môn cao, sự hiểu biết pháp luật và là đội ngũ tham mưu, hoạch định chính sách, chiên lược, pháp luật về đất đai. Vì vậy, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT là quyết định cuối cùng. Các đương sự có nghĩa vụ phải chấp hành, nếu không thực hiện sẽ bị Nhà nước cưỡng chế.
Ba là, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT là hoạt động của cơ quan hành chính. Điều này thể hiện: Đối tượng của giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT là các tranh chấp đất đai mang tính chất hành chính đã được cơ quan hành chính nhà nước thụ lý, giải quyết (UBND cấp có thẩm quyền giải quyết). Hay nói cách khác, đối tượng thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT là quyết định hành chính giải quyết tranh chấp đất đai của UBND các cấp bị đương sự khiếu nại do không đồng thuận với quyết định của người đứng đầu UBND cấp huyện, UBND cấp tỉnh. Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT tuân theo thủ tục khiếu nại hành chính v.