Chương 1: Cơ sở lý luận về thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai qua thực tiễn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 13 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI 1. Quan niệm về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 1. Khái niệm khiếu nại, khiếu nại về đất đai Trong khoa học pháp lý tại Việt Nam, kể từ khi Hiến pháp 1959 ra đời, bản Hiến pháp này đã công nhận rằng “Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân” và là một trong những cách thức để công dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Nếu giải quyết tốt các khiếu nại sẽ góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển đất nước.
- Quan điểm về khái niệm khiếu nại Khiếu nại là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, khiếu nại theo gốc tiếng Latinh: "Complant", nghĩa là sự phàn nàn, phản ứng, bất bình của người nào đó về vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình [33, tr. Theo sách “3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông”: “khiếu nại là việc yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc người có chức vụ giải quyết việc vi phạm các quyền hoặc lợi ích hợp pháp của bản thân người khiếu nại hay người khác [7, tr. Theo Từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý làm chủ biên: "Khiếu nại là thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y [37, tr. Như vậy, cách hiểu của các tác giả cuốn Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý chủ biên có sự khác biệt so với Nguyễn Ngọc Điệp khi cho rằng Phạm vi của các vấn đề cần khiếu nại không chỉ là những hành vi xâm 14 z phạm tới quyền lợi hợp pháp của các chủ thể.
Nguyễn Như Ý coi Khiếu nại còn có thể tiến hành với các hành vi chưa xác định được sự xâm phạm, hoặc các hành vi bất hợp lý hay các hành vi không có căn cứ để cho rằng nó sẽ đạt được hiệu quả cao của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, người có chức vụ công. Theo tôi, tôi đồng tình với cách hiểu của nhóm tác giả Nguyễn Như Ý bởi một hành vi khi chưa có phán quyết của Tòa án thì đôi lúc khó có thể xác định liệu nó có vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác không. Mặc dù ở trong hệ thống pháp luật của nước ta, nguyên tắc “suy đoán” vẫn còn được sử dụng phổ biến, mặc nhiên coi các hành vi là vi phạm dựa trên cảm quan của các chủ thể ngoài Tòa án. Có một cách hiểu khác cho rằng : “Khiếu nại là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội; đó là sự phản ứng có tính tự nhiên của một người đối với hành vi của người khác khi họ cho rằng hành vi đó không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến các quyền và lợi ích của mình.” Tuy nhiên cách hiểu này theo tôi không thực sự xác đáng, bởi khiếu nại là việc đề đạt ý nguyện của mình tới chủ thể đã đưa ra các quyết định, và các chủ thể đó thường là chủ thể có quyền lực chi phối một số lĩnh vực liên quan tới những điều mà chúng ta cảm thấy bất cập.
Dưới góc độ chính trị - pháp lý, có một cách hiểu rằng “khiếu nại là một quyền tự do, dân chủ quan trọng của công dân được pháp luật quy định và đảm bảo thực hiện bởi bộ máy nhà nước. Quyền khiếu nại được coi là “quyền để bảo vệ quyền”, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị hành vi của người khác xâm phạm.Cách định nghĩa này không đưa ra một nội hàm mô tả về khiếu nại mà chỉ đưa ra các vai trò của khiếu nại mà thôi. Nhìn lại lịch sử lập pháp của Việt Nam, thuật ngữ "khiếu nại" được sử dụng lần đầu tiên trong văn bản chính thức của Nhà nước Việt Nam là kể từ khi có Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc 15 z biệt. Điều II Sắc lệnh qui định: "Ban Thanh tra đặc biệt có toàn quyền: Nhận các đơn khiếu nại của nhân dân.
Tinh thần và nội dung của bản Sắc lệnh cho thấy khiếu nại ở đây là chỉ sự khiếu nại của nhân dân đối với chính quyền mà hiện nay chúng ta quan niệm đó chính là khiếu nại đối với hoạt động của bộ máy nhà nước và công chức nhà nước mà trước hết là các CQHCNN. Tại Điều I, Chính phủ (1945), Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11 về thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, Hà Nội, sắc lệnh cũng đã xác định: "Chính phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có ủy nhiệm làđi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ". Năm 2000, Thanh tra Nhà nước nhận định về khiếu nại, tố cáo, khái niệm "khiếu nại" được hiểu rộng hơn, theo đó,khiếu nại theo nghĩa chung nhất là việc cá nhân hay tổ chức đề nghị cá nhân, tổ chức hay cơ quan nào đó xem xét, sửa chữa lại một việc làm mà họ cho là không đúng đắn, gây thiệt hại hoặc sẽ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích chính đáng của họ và đòi bồi thường thiệt hại do việc làm không đúng gây ra. Theo quy định tại Điều 2, Khoản 1 của Luật khiếu nại năm 2011:“Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.
Định nghĩa này cho rằng Khiếu nại chỉ có thể nhắm đối các chủ thể ra quyết định là người , cơ quan thuộc Nhà nước. Tuy nhiên trên thực tế, bất cứ cá nhân tổ chức nào có quyền lực tác động đến các quyền lợi của chủ thể khác đều có thể nhận được sự phản hồi thông qua hình thức khiếu nại. Do đó về mặt khoa học pháp lý, việc gói gọn nghĩa của thuật ngữ 16 z Khiếu nại như định nghĩa này là không thực sự xác đáng. Nên đặt lại thành thuật ngữ “Khiếu nại hành chính” sẽ hợp lý hơn.
- Thuật ngữ “Khiếu nại về đất đai” Trong giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội- Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2009, ThS Nguyễn Thị Dung đã kế thừa hai cách hiểu của nhóm Nguyễn Như Ý và Nguyễn Ngọc Điệp, cùng với định nghĩa về Khiếu nại trong Luật Khiếu nại,tố cáo năm 1998 để cho ra khái niệm về “Khiếu nại về đất đai” như sau : “Khiếu nại về đất đai là việc các cơ quan, tổ chức, công dân đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Định nghĩa này về cơ bản là chấp nhận được, tuy nhiên vẫn chưa đi đúng tinh thần của thuật ngữ Khiếu nại.Bản chất của việc khiếu nại là đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại các quyết định không hợp lý, không hợp pháp tránh ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của người dân. Do đó khiếu nại không chỉ giải quyết mỗi vấn đề của chủ thể khiếu nại, mà có thể của các chủ thể khác. Một người công dân thì hoàn toàn có thể đề nghị các cơ quan quản lý xem xét lại một hành vi ảnh hưởng tới quyền lợi của nhà nước hoặc công dân, tổ chức khác.
Như vậy mới là cái đích hướng tới của một xã hội tốt, và luật pháp cũng phải quy định mở hơn như vậy. Qua các nghiên cứu bên trên, học viên một phần đồng ý với cách định nghĩa của các nhà khoa học đi trước,đồng thời học viên cũng xin đưa ra định nghĩa về “Khiếu nại về đất đai” như sau “Khiếu nại về đất đai là một hình thức của khiếu nại hành chính, là việc các chủ thể đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân xem xét lại các quyết định, hành vi đã làm, đã chuẩn y trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của mình và chủ thể khác. Khái niệm tố cáo và tố cáo về đất đai Tố cáo là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội. Tố cáo được quan niệm khác nhau tùy theo mức đô, phạm vi, đối tượng tố cáo.
Theo nghĩa chung nhất, tố cáo là “vạch rõ tội lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận” [37, tr. Theo học viên, định nghĩa như trên là quá hẹp bởi quá khó để thực hiện việc tố cáo nếu hiểu như trên.Trong thực tế đời sống, không phải ai cũng có thể “vạch rõ tội lỗi của kẻ khác” được.Muốn vạch rõ tội lỗi của người khác thì phải có trình độ và hiểu biết về chứng minh, chứng cứ cùng với các nghiệp vụ điều tra. Và thường thì nhiệm vụ “vạch rõ tội lỗi” này ta có thể thấy ở Viện kiểm sát hoặc Cơ quan Công an, những cơ quan chuyên trách. Có một cách hiểu khác về tố cáo như sau “Tố cáo là quyền của công dân phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các quyết định, hành vi trái pháp luật của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích của công dân nói chung, kể cả không gây thiệt hại trực tiếp cho công dân thực hiện việc tố cáo.