TRUNG TÂM ĐÀO TẠO CÁN BỘ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO NGƯỜI MÙ TÀI LIỆU GIẢI PHẪU – SINH LÝ Hà Nội, năm 2021 MỤC LỤC Bài 1. CƠ SỞ GIẢI PHẪU HỌC. Phân chia cơ thể. Tư thế giải phẫu học.
Các từ chỉ phương hướng………………………………………. Ba mặt phẳng trong không gian. Chức năng của xương. Sự hình thành và phát triển của xương.
Các xương tiêu biểu. Cấu tạo của khớp. Phân loại khớp. Các cử động của khớp.
Chức năng của cơ. Một số cơ thông dụng. HỆ TUẦN HOÀN. Hệ thống dẫn truyền của tim.
Nuôi dưỡng quả tim. Điều hòa hoạt động cho quả tim. HỆ HÔ HẤP. Phổi - Màng phổi.
HỆ BÀI TIẾT. Hệ tiết niệu. HỆ THẦN KINH. Thần kinh gai sống.
Các đôi thần kinh sọ não .60 Bài 1 CƠ SỞ GIẢI PHẪU HỌC 1. Định nghĩa Giải phẫu học người (human anatomy) là ngành khoa học nghiên cứu cấu trúc cơ thể con người. Tùy thuộc vào phương tiện quan sát, giải phẫu học được chia thành hai phân môn: giải phẫu đại thể nghiên cứu các cấu trúc có thể quan sát bằng mắt thường và giải phẫu vi thể nghiên cứu các cấu trúc nhỏ chỉ có thể nhìn thấy qua kính hiển vi. Trong tài liệu này chủ yếu giới thiệu một số những mô tả giải phẫu đại thể.
Phân chia cơ thể Cơ thể người được chia thành 3 vùng lớn: thân, chi trên và chi dưới. Thân gồm đầu, cổ, ngực, bụng và chậu. Chi trên gồm cánh tay, cẳng tay và bàn tay. Chi dưới gồm đùi, cẳng chân và bàn chân.
Nơi nối thân và cánh tay gọi là vai. Nơi nối cánh tay và cẳng tay gọi là khuỷu. Nơi nối đùi và cẳng chân gọi là gối. Thân - Đầu: Phần trên của đường nối bờ dưới hàm dưới, khớp thái dương - hàm mỏm chũm, ụ chẩm ngoài là đầu; phần dưới là cổ.
- Cổ: Phần trên của đường nối bờ trên xương ức, bờ trên xương đòn, mỏm cùng vai, đốt sống cổ C7 là cổ; phần dưới là ngực. - Ngực: Phần trên của đường nối mỏm mũi kiếm, cung sườn, mỏm gai đốt sống ngực D12 là ngực; phần dưới là bụng. - Bụng: Phần trên của đường nối dây chằng bẹn, gai chậu trước trên mào chậu, xương cụt là bụng; phần dưới là đùi. Chi trên - Cánh tay: Từ vai đến khuỷu.
Chỗ lõm ở mặt trước khuỷu là hố khuỷu. - Cẳng tay: Từ khuỷu đến cổ tay. - Bàn tay: Gồm mặt trước (lòng bàn tay), mặt sau (mu bàn tay). Chi dưới - Đùi: Từ bẹn đến gối.
Chỗ lõm ở mặt sau gối gọi là hố khoeo. - Cẳng chân: Từ gối đến cổ chân. - Bàn chân: Gồm mu chân (mặt trên), gan chân (mặt dưới). Tư thế giải phẫu học Đứng thẳng, hai tay buông xuôi cạnh phía ngoài thân người, lòng bàn tay hướng về phía trước, gọi là tư thế giải phẫu học.
Các từ chỉ phương hướng - Trên: Gần phía đầu - Dưới: Xa phía đầu - Trước: Phía bụng - Sau: Phía lưng - Trong: Gần đường giữa cơ thể - Ngoài: Xa đường giữa cơ thể - Gần: Gần thân - Xa: Xa thân 5. Ba mặt phẳng trong không gian - Mặt phẳng dọc giữa: Là mặt phẳng chia cơ thể ra làm 2 nửa: nửa phải và nửa trái. - Mặt phẳng đứng ngang: Là mặt phẳng chia cơ thể thành phía trước và phía sau. 4 - Mặt phẳng nằm ngang: Là mặt phẳng cắt ngang qua cơ thể, chia cơ thể thành phần trên và phần dưới.
5 Bài 2 HỆ XƯƠNG 1. Đại cương Xương được cấu tạo chủ yếu bằng mô xương, một loại mô liên kết rắn. Các xương liên kết với nhau tạo nên bộ xương. Bộ xương đảm nhiệm các chức năng: nâng đỡ cơ thể, bảo v ệ và làm chỗ dựa cho các cơ quan.
Bộ xương cùng với các hệ cơ - khớp và thần kinh tạo thành hệ vận động của cơ thể con người. Bộ xương cũng là nơi sản sinh các tế bào máu và là kho dự trữ chất khoáng và chất béo. Người trưởng thành có 206 xương được chia làm ba phần: xương đầu, xương thân và xương chi. Phân loại Xương được chia làm 3 loại: - Xương dài: Xương cẳng tay, xương cánh tay, xương đùi, xương cẳng chân.
- Xương ngắn: Xương cổ tay, cổ chân, xương ngón tay - ngón chân. - Xương dẹt: Xương vòm sọ, xương bả vai, xương ức. Ngoài ra còn có một số xương nằm trong gân cơ và những xương có hình dạng không theo một hình quy ước nào như: xương trán, xương hàm trên. Chức năng của xương 3.
Nâng đỡ cơ thể Các xương liên kết với nhau tạo thành khung cứng và điểm tựa để nâng toàn bộ cơ thể, giúp cho người có tư thế đứng thẳng. Bảo vệ Xương bảo vệ các cơ quan trong cơ thể không bị tổn thương như: tủy sống nằm trong ống sống, não bộ nằm trong hộp sọ, hệ tuần hoàn và hô hấp nằm trong lồng ngực. Vận động Do các cơ bám vào xương được coi như hệ đòn bẩy đến từ các khớp. Dưới tác động của hệ thần kinh, cơ co duỗi làm các xương hoạt động nên xương đóng vai trò chủ động khi vận động.
Tạo máu và trao đổi chất Tủy đỏ ở đầu xương làm nhiệm vụ tạo huyết (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu), còn tủy xương là nơi dự trữ mỡ và dự trữ muối khoáng, Canxi, phốt pho và đặc biệt dự trữ Ca++ cho cơ thể khi cần thiết. Do vậy, bất kỳ nguyên nhân nào gây tổn thương vào hệ xương thường gây nên sự bất thường như gù vẹo cột sống do bẩm sinh hay mắc phải, khi không cố định được Ca++ gây nên bệnh loãng xương hoặc ảnh hưởng của hóa chất, phóng xạ làm tổn thương tủy thường mắc bệnh về máu. Cấu tạo chung của các loại xương Bất kỳ một xương nào cũng được cấu tạo (từ ngoài vào trong) như sau: - Màng xương hay ngoại cốt mạc: Là một màng liên kết dai, dính chặt vào xương, gồm 2 lá: lá ngoài chứa các nhánh tận cùng của thần kinh cảm giác, lá trong chứa các tạo cốt bào và nhiều mạch máu. Các mặt khớp không có màng xương.
7 - Xương đặc: Là mô rắn, chắc, mịn, vàng nhạt. - Xương xốp: Do nhiều bè xương đan chéo nhau, giới hạn nên những hốc nhỏ. - Tủy xương: Gồm tủy đỏ là nơi tạo huyết, tủy vàng chứa nhiều tế bào mỡ có trong các ống tủy của thân xương dài. Cấu tạo riêng của từng loại xương - Xương dài: Ở thân xương, lớp xương đặc dày ở giữa, mỏng dần về phía hai đầu, lớp xương xốp thì ngược lại, ống tủy chứa tủy vàng.
- Xương ngắn có cấu tạo giống đầu xương dài. - Xương dẹt gồm hai bản xương đặc: Bản ngoài và bản trong, lớp xương xốp ở giữa gọi là lõi xốp. Sự hình thành và phát triển của xương Xương được hình thành từ cuối tháng thứ nhất của phôi thai và tiếp tục phát triển cho tới tuổi trưởng thành. Có hai giai đoạn hình thành xương: - Giai đoạn thứ nhất: Mô liên kết lỏng lẻo của trung mô của phôi biến thể đặc dưới dạng một màng dai.
Xương được hình thành trên màng dai này. - Giai đoạn thứ hai: Diễn ra khi các tế bào của màng dai biến thành xương theo hai cách: + Chuyển trực tiếp từ màng thành xương bắt đầu từ tháng thứ hai của phôi kỳ, như các xương vòm sọ, xương hàm dưới, xương đòn. Trên màng này xuất hiện các điểm cốt hóa và lan rộng dần. Xương được hình thành theo cách này gọi là xương màng.
+ Hầu hết các xương được hình thành từ sụn. Đầu tiên trung mô tạo ra mô hình xương bằng sụn (đầu tháng thứ 2). Các tế bào được 8 máu mang tới phá hủy sụn và chỗ sụn bị phá hủy được thay thế bằng mô xương. Quá trình này được gọi là sụn cốt hóa và xương được hình thành theo cách này gọi là xương sụn.
- Sự tái tạo xương: Khi gãy xương, giữa hai đầu gãy hình thành các mô liên kết, được sinh ra từ cốt mạc với sự tham gia của cân, cơ, mạch máu, tủy xương. Sau đó, muối, canxi đọng lại, mô liên kết biến thành xương gọi là can xương. Nếu hai đoạn gãy không được cố định tốt và ở xa nhau thì giữa chúng hình thành mô sụn, mô này không biến thành xương nên tạo ra khớp giả. Các xương tiêu biểu 6.
Xương sọ Xương sọ là một khối gồm 22 xương nằm ở đầu trên của cột sống. Xương sọ do hai nhóm xương hợp thành: các xương hộp sọ và các xương mặt. - Hộp sọ là hộp xương bảo vệ cho não do 8 xương tạo nên: 2 xương đỉnh, 1 xương trán, 1 xương chẩm, 1 xương bướm, 1 xương sàng và 2 xương thái dương. - Các xương mặt tạo nên khung xương của mặt, gồm 14 xương mặt là: 2 xương lệ, 2 xương xoăn mũi dưới, 2 xương mũi, 2 xương hàm trên, 2 xương khẩu cái, 2 xương gò má, 1 xương hàm dưới và 1 xương lá mía.
* Những đặc điểm chung: - Ngoài việc tạo nên hộp sọ, các xương sọ cũng tạo nên một số khoang nhỏ khác, bao gồm ổ mũi và các ổ mắt mở ra phía trước. Một số 9 xương sọ chứa những khoang được lót bằng niêm mạc và thông với mũi; chúng được gọi là những xoang cạnh mũi. Trong xương thái dương có những khoang nhỏ chứa các cấu trúc liên quan tới thính giác và thăng bằng. - Trong các xương sọ, chỉ có xương hàm dưới là có thể chuyển động được, các xương còn lại dính chặt với nhau thành một khối bằng các đường khớp bất động.
- Ngoài việc tạo nên khung xương của mặt, các xương mặt còn bảo vệ cho đường vào của các hệ hô hấp và tiêu hóa. Cả khối xương sọ bảo vệ và nâng đỡ cho các giác quan chuyên biệt về nhìn, nếm, ngửi, nghe và thăng bằng. Các xương hộp sọ - Xương trán: tạo nên trán và phần trên ổ mắt. - Xương thái dương: 2 xương thái dương ở mặt ngoài hộp sọ, tạo nên ống tai ngoài ở phía trước trên và mỏm chũm ở dưới.
-Xương đỉnh: hai xương đỉnh tạo nên vòm sọ. - Xương chẩm: tạo nên mặt sau của hộp sọ. - Xương bướm: có hình dáng như con bướm, tạo nên đáy hộp sọ ở phía sau mắt. - Xương sàng: nằm trước xương bướm và sau dưới xương trán, góp phần tạo nên vách mũi, trần ổ mũi, thành ngoài ổ mũi và thành trong ổ mắt.
Các xương trán, xương thái dương, xương đỉnh, xương chẩm tiếp khớp với nhau bởi các đường khớp. Ở trẻ sơ sinh, sự tiếp khớp các đường khớp chưa hoàn toàn, nơi gặp nhau của các đường khớp chỉ là 10 tổ chức mô mềm được gọi là thóp.