CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẤT YẾU VÀ CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ SẠT LỞ MÁI DỐC NỀN ĐƯỜNG 1. Tổng quan về đất yếu. Định nghĩa và nguồn gốc hình thành. Nền đất yếu là nền đất có sức chống cắt τ (φ, ϲ) nhỏ, không đủ độ bền và tính nén lún lớn, thường độ rỗng e 0 lớn, độ ẩm tự nhiên lớn ( thường bão hòa nước), mô đun tổng biến dạng bé ( nói chung E0 50daN/ cm2 ).
Do vậy nền đắp trên đất yếu nếu không áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp thì thường dễ mất ổn định hoặc lún nhiều, lún kéo dài ảnh hưởng xấu đến việc khai thác và sử dụng mặt đường và các công trình trên đường. Tùy theo nguyên nhân hình thành, đất yếu có thể có nguồn gốc khoáng vật hoặc nguồn gốc hữu cơ. Loại có nguồn gốc khoáng vật thường là sét hoặc á sét trầm tích trong nước ở ven biển, vùng vịnh, đầm hồ, đồng bằng tam giác châu, loại này có thể lẫn hữu cơ trong quá trình trầm tích ( hàm lượng cơ có thể tới 10-12%) nên có thể có màu nâu đen, xám đen, có mùi. Đối với loại này, được xác định là đất yếu nếu ở trạng thái tự nhiên, độ ẩm của chúng gần bằng hoặc cao hơn giới hạn chảy, hệ số rỗng lớn ( sét e0 1.5, á sét e0 1), lực dính C theo kết quả cắt nhanh không thoát nước từ 0.15 daN/ cm2 trở xuống, góc nội ma sát φ từ 0÷10 0 hoặc lực dính từ kết quả thí nghiệm cắt cánh hiện trường Cu ≤ 0.
Với đất than bùn còn yếu hơn, e 0 vào khoảng 3÷15; Lực dính C: 0.04 daN/ cm2 , tgφ: 0. Ngoài ra, ở các vùng thung lũng còn có thể hình thành đất yếu dưới dạng bùn cát, bùn cát mịn ( hệ số rỗng e0 >1. 4 Loại nguồn gốc hữu cơ thường hình thành từ đầm lầy, nơi nước tích đọng thường xuyên, mực nước ngầm cao, tại đây các loại thực vật phát triển, thối rữa và phân hủy, tạo ra các vật lắng hữu cơ lẫn với các trầm tích khoáng vật. Loại này thường được gọi là đất đầm lầy than bùn, hàm lượng hữu cơ chiếm tới 20-80%, thường có màu đen hay nâu sẫm, cấu trúc không mịn ( vì lẫn các tàn dư thực vật).
Đối với loại này được xác định là đất yếu nếu hệ số rỗng và các đặc trưng sức chống cắt của chúng cũng đạt các trị số như trên. Đất yếu đầm lầy than bùn còn được phân theo tỷ lệ lượng hữu cơ: o Lượng hữu cơ có từ 20-30%: đất nhiễm than bùn. o Lượng hữu cơ có từ 30-60%: đất than bùn. o Lượng hữu cơ trên 60%: than bùn.
Một số đặc điểm của nền đất yếu Thuộc loại nền đất yếu thường là đất sét có lẫn nhiều hữu cơ; Sức chịu tải bé (0,5 – 1kG/cm2); Đất có tính nén lún lớn (a> 0,1 cm2/kG); Hệ sô rỗng e lớn (e > 1,0); Độ sệt lớn ( B > 1); Mo đun biến dạng bé (E< 50kG/cm2); Khả năng chống cắt bé (ϕ, c bé), khả năng thấm nước bé; Hàm lượng nước trong đất cao, độ bão hòa nước G> 0,8, dung trọng bé. Các loại nền đất yếu thường gặp + Đất sét mềm: gồm các loại đất sét hoặc á sét tương đối chặt, ở trạng thái bão hòa nước, có cường độ thấp; + Bùn: Các loại đất tạo thành trong môi trường nước, thành phần hạt rất mịn (<200μm) ở trạng thái luôn no nước, hệ số rỗng rất lớn, rất yếu về mặt chịu lực; 5 + Than bùn: Là loại đất yếu có nguồn gốc hữu cơ, được hình thành do kết quả phân hủy các chất hữu cơ có ở các đầm lầy (hàm lượng hữu cơ từ 20 – 80%); + Cát chảy: Gồm các loại cát mịn, kết cấu hạt rời rạc, có thể bị nén chặt hoặc pha loãng đáng kể. Loại đất này khi chịu tải trọng động thì chuyển sang trạng thái chảy gọi là cát chảy. + Đất bazan: Đây cũng là đất yếu với đặc điểm độ rỗng lớn, dung trọng khô bé, khả năng thấm nước cao, dễ bị lún sập.
Các hiện tượng sạt lở mái dốc nền đường. Khái niệm sạt lở Sạt lở là hiện tượng mất ổn định và chuyển dịch các khối đất, đá tự nhiên do tác động của các yếu tố chấn động địa chất, mưa lớn, dòng chảy, sóng, biến đổi mực nước và các tác động khác. Xử lý sạt lở là hoạt động nhằm khắc phục, ngăn chặn, hạn chế sạt lở, giữ ổn định bờ sông, suối, bờ biển, đảo; trường hợp không ngăn chặn, hạn chế kịp thời sạt lở sẽ gây ra hoặc có nguy cơ gây ra thiệt hại về tính mạng, tài sản, công trình hạ tầng của nhân dân và Nhà nước [1] 6 Hình 1.1 Vết nứt trên bờ sông Véo- Bình Định Nguồn: Báo tài nguyên môi trường Nạn bờ sông Kôn sạt lở đang diễn tiến nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến 50 hộ dân ở thôn Hòa Trung, xã Bình Tường (huyện Tây Sơn). Đến nay, vệt xâm thực bờ sông đã kéo dài gần 2km và tiếp tục có chiều hướng gia tăng.
Trong đó, xóm 6, 7 và xóm 8 (thôn Hòa Trung) là những nơi bị sạt lở trầm trọng nhất. Để cứu diện tích đất canh tác, hạn chế nạn xâm thực ảnh hưởng đến cuộc sống, nhiều hộ dân sống trong vùng bị ảnh hưởng đã gia cố bờ sông bằng cách trồng tre, trúc, rù rì. Song cũng không ăn thua gì, bởi sau mỗi mùa lũ, tất cả cây cối nằm dọc sông đều bị nước cuốn phăng. Tình trạng bờ sông Kôn qua thôn Hữu Giang- Bình Định.
Nguồn: Báo Tài Nguyên Môi Trường Không khá hơn, tình trạng bờ sông Kôn qua thôn Hữu Giang, hoặc xóm chòm Chài, xóm 2, thôn Tả Giang 1, xã Tây Giang (huyện Tây Sơn) nạn sạt lở cũng diễn ra nghiêm trọng, đe dọa tính mạng và tài sản của trên 50 hộ dân. Theo nhận định của Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh, mùa mưa bão năm 2017 sẽ diễn biến phức tạp, các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa rất to xảy ra trong thời gian ngắn cùng với thời điểm từ tháng 4 đến 5 năm 2017 mực nước trên các tuyến sông, rạch xuống thấp dễ gây ra hiện tượng sạt lở bờ sông sẽ ảnh hưởng đến địa phương ngay trong các tháng đầu mùa.Sạt lở bờ bao ấp Long Khánh, xã Long Mỹ, huyện Mang Thít, Long An Nguồn: Báo mới Hình 1. Một điểm sạt trượt taluy huyện Bắc Yên, Sơn La. Nguồn: Báo tin tức 9 Hình 1.
Một điểm sạt lở taluy bờ sông ở Bắc Bộ Nguồn: Báo mới 1. Cơ chế sạt lở Cơ chế mất ổn định tổng thể của đường đắp trên đất yếu và đất sét thường xuất hiện dưới dạng khối trượt cong tròn [31]. Vị trí nghiên cứu có địa chất chủ yếu là sét mềm và yếu (chương 2 sẽ nói cụ thể- bảng 2.1), do đó mặt phá hoại sẽ có dạng đường cong. Kết quả phân tích ổn định theo phần mềm PLAXIS 2D v8.6 cho thấy hình dạng mặt trượt nhận được đều có dạng đường cong.
Vị trí sạt lở trên Quốc lộ 80 nằm ở đoạn cong nhất của sông Hậu cùng với lớp đất yếu dày khoảng 18 m, kéo dài đến tận đáy sông, dưới tác động trực tiếp của chủ lưu dòng chảy gây xói sâu ở chân mái dốc. Đây cũng chính là nhân tố gây phá hoại bờ sông Chao Phraya, Thái Lan [32]. Vào mùa khô, mực nước sông Hậu hạ thấp làm giảm tính ổn định của mái dốc, các hoạt động bốc dỡ hàng hóa bằng thuyền cập trực tiếp vào bờ càng đẩy nhanh quá trình xói lở chân mái dốc ở vị trí mặt lớp đất yếu. Khi có sự 10 gia tăng tải trọng tác dụng như lưu lượng xe cộ qua lại lớn và các hoạt động khác của con người dẫn đến trượt sâu và sạt lở tổng thể mái dốc.
Xói lở có thể diễn ra trong suốt mùa lũ với tốc độ dòng chảy lớn tác động vào bờ, tạo điều kiện cho sự phá hoại bờ sông trong mùa khô. Đặc trưng và kích thước hình học của sạt lở đất Sạt lở có những đặc điểm chung là diễn biến rất phức tạp, đa dạng, xảy ra rất nhanh, bất ngờ và là mối nguy hiểm nghiêm trọng, thậm chí là thảm khốc đến tài sản và tính mạng của con ngưới, theo Ủy ban liên kết quốc tế của những nhà kỹ thuật địa chất (IAEG) về sạt lở đất thì những đặc trưng có thể quan sát thể hiện ở Hình 1.6 như sau : (1) Phần đỉnh: nằm phía trên mặt dốc chính. (2) Mặt dốc chính: mặt dốc hình thành sau khi sạt lở, nằm bên trên của khối trượt. (3) Điểm cao nhất của khối trượt: điểm nằm trên cùng của khối trượt, tiếp giáp giữa phần vật liệu bị dịch chuyển đi với mặt dốc chính.
(4) Phần trên của khối trượt: phần nằm giữa phần vật liệu bị dịch chuyển đi với mặt dốc chính. (5) Mặt dốc thứ yếu: mặt dốc nằm trên khối trượt đã xảy ra trước đó, hình thành do nhiều quá trình sạt lở khác nhau. (6) Hình dạng chính của khối trượt: phần vật liệu bị bong ra nằm phủ lên trên bề mặt bị trượt. (7) Phần dưới của khối trượt: phần khối trượt mà đã di chuyển đến chân của mái dốc.
(8) Điểm thấp nhất của khối trượt: điểm nằm ở chân của khối trượt có khoảng cách xa nhất tính từ điểm trên cùng của khối trượt. (9) Chân của khối trượt. (10) Mặt trượt: bề mặt được tạo thành từ biên thấp hơn của khối trượt (11) Chân của mặt trượt: nơi giao nhau giữa phần dưới của mặt trượt và mặt đất tự nhiên khi chưa sạt lở. 11 (12) Mặt phân cách: mặt đất tự nhiên khi chưa sạt lở bây giờ đã bị bao phủ bởi phần dưới của khối trượt.
(13) Khối vật liệu dịch chuyển: khối vật liệu dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu của nó. (14) Vùng rỗng: phần diện tích nơi mà khối trượt nằm ở bên dưới mái dốc tự nhiên ban đầu. (15) Vùng tích lũy: phần diện tích nơi mà khối trượt nằm bên trên mái dốc tự nhiên ban đầu. (16) Khoảng trống: phần thể tích được giới hạn bởi mặt dốc chính, khối trượt và mái dốc tự nhiên ban đầu.
(17) Khối trượt: thể tích của khối vật liệu dịch chuyển đi phủ lên mặt trượt nhưng nằm dưới mặt đất tự nhiên ban đầu. (18) Quá trình tích lũy: thể tích của khối vật liệu dịch chuyển nằm bên trên mặt đất tự nhiên ban đầu. (19) Sườn của khối trượt: nơi mà vật liệu không bị xáo trộn nằm liền kề với mặt trượt. (20) Mặt đất tự nhiên ban đầu: bề mặt của mái dốc mà đã tồn tại trước khi sạt lở xảy ra.
12 Bình đồ của sạt lở đất Khối vật liệu dịch 1 chuyển Hình 1.