Chương 1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đói nghèo và xoá đói giảm nghèo 1. Quan niệm về đói nghèo và các nhân tố ảnh hưởng tới đói nghèo 1. Quan niệm về đói nghèo Lịch sử phát triển của xã hội loại người ở mỗi giai đoạn được đánh dấu bằng trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - theo đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động ngày càng cao thì nhu cầu được đáp ứng ngày càng nhiều, càng phong phú và ngược lại, khi một bộ phận xã hội do trình độ sản xuất lạc hậu, năng suất lao động xã hội thấp không thể đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của mình như ăn, mặc, ở, đi lại v. thua xa các bộ phận xã hội khác thì sẽ rơi vào tình trạng đói nghèo.
Ngày nay, khi khoa học - công nghệ càng phát triển dưới sự thống trị của nhiều thể chế khác nhau thì khoảng cách giàu, nghèo ngày càng lớn. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới thì trên toàn thế giới tổng số người nghèo gia tăng từ 1,2 tỷ người năm 1987 đến nay đã lên 1,5 tỷ người và nếu chiều hướng này cứ tiếp tục thì đến năm 2015 con số người đói nghèo sẽ là 1,9 tỷ người. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Trước thực trạng đó, thế giới cũng đã có nhiều nỗ lực và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong cuộc chiến chống đói nghèo. Theo đánh giá của một số tổ chức quốc tế như: Liên Hiệp quốc, Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB).
thì số người có mức thu nhập dưới 1 USD/1 ngày ở khu vực Châu á giảm nhanh (từ năm 1990 đến năm 2002 đã giảm 223 triệu người) dẫn đầu các khu vực trên thế giới về xoá đói giảm nghèo, hy vọng vào năm 2015 số người nghèo ở đây sẽ giảm 690 triệu người còn 150 triệu người [14, tr. Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia mà là vấn đề có tính toàn cầu, bởi lẽ ở tất cả các quốc gia trên thế giới, kể cả những nước giàu nhất về kinh tế như Mỹ, Đức, Nhật. người nghèo vẫn còn và khó có thể hết người nghèo khi trong các xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội, môi trường và sự bất bình đẳng trong phân phối của cải làm ra. Rủi ro quá nhiều trong sản xuất và đời sống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng tổn thương về thể xác, tài chính và những điều kiện cơ bản của cuộc sống và kết quả trở thành nghèo.
Tháng 3 năm 1995, tại Hội nghị thượng định thế giới về phát triển xã hội ở Copenhagen Đan Mạch, những người đứng đầu các quốc gia đã trịnh trọng tuyên bố: chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây như một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị, kinh tế của nhân loại. Chúng ta thường thấy nhiều khái niệm về nghèo như: nghèo đói, nghèo khổ, giàu nghèo, phân hoá giàu nghèo hay khoảng cách giàu nghèo, những khái niệm này được các học giả, các nhà khoa học định nghĩa dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau như nghèo về vật chất, nghèo về tri thức, nghèo về văn hoá. Mặt khác, bên cạnh khái niệm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nghèo, còn sử dụng khái niệm đói để phân biệt mức độ rất nghèo của một bộ phận dân cư. Chính vì vậy, hiện nay chúng ta thường thấy khái niệm kép đói nghèo hoặc nghèo đói.
Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia, dân tộc. Nó là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian [3, tr. Cho đến nay, khái niệm nghèo đói được dùng nhiều nhất là khái niệm đã được đưa ra tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói do ủy ban kinh tế và xã hội của châu á - Thái Bình Dương (escap) tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993, đã đưa ra khái niệm nghèo đói như sau: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương. Đây chính là một khái niệm chung nhất về nghèo đói, một khái niệm mở, có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo.
Các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hoá được bỏ ngỏ bởi vì còn phải tính đến sự khác biệt chênh lệch giữa điều kiện tự nhiên điều kiện xã hội và trình độ phát triển của mỗi vùng miền khác nhau. Vấn đề quan trọng nhất mà khái niệm này đã đưa ra được đó chính là những nhu cầu cơ bản của con người, nếu không được thoả mãn thì họ chính là những người nghèo đói. Một khái niệm mở như vậy sẽ dễ dàng được các tổ chức và các quốc gia chấp nhận. Khái niệm sẽ được mở rộng hơn theo sự phát triển của xã hội, nhất là khi nhu cầu cơ bản của con người được mở rộng theo thời gian.
Từ khái niệm chung này, khi nghiên cứu thực trạng nghèo đói, người ta đã đưa ra hai khái niệm, đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Nghèo tuyệt đối: Đó là sự thiếu hụt so với mức sống (những nhu cầu) tối thiểu. Nghèo tuyệt đối đề cập đến vị trí của một cá nhân, hộ gia đình trong mỗi quan hệ với đường nghèo khổ mà giá trị tuyệt đối của họ cố định theo thời gian. Nghèo tuyệt đối thường được tính trên những nhu cầu dinh dưỡng và một số hàng hoá khác, do vậy một đường nghèo tuyệt đối được dùng để thực hiện các so sánh nghèo đói.
Nghèo tương đối: Đó là sự thiếu hụt của các cá nhân hộ gia đình so với mức sống trung bình đạt được. Sự thiếu hụt này dựa trên cơ sở một tỷ lệ nào đó so với mức thu nhập bình quân của dân cư, có quốc gia xác định dựa trên thu nhập bình quân, có quốc gia lại dựa trên 1/3 thu nhập bình quân. Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo, được nhiều nước trên thế giới sử dụng. ở Việt Nam quan niệm về nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối là: Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục.) Nghèo tương đối: chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư không được thoả mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết là ăn, mặc, ở.
nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mực sống của một bộ phận dân cư khi so sánh với mức sống trung bình của cộng đồng địa phương trong một thời kỳ nhất định. Do đó, có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, phương còn nghèo tương đối luôn xảy ra trong xã hội, vẫn đề quan tâm ở đây là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, giảm thiểu tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tương đối. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn cứ vào thực trạng kinh tế-xã hội ở Việt Nam trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo đến năm 2005 và 2010 Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu á - Thái Bình Dương do escap tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993. Đồng thời vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng, nêu bên cạnh khái niệm nghèo đói ở Việt Nam còn có một số khái niệm sau: Đói: là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống.
Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cộng đồng. Hộ đói: là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ, rách nát. Hộ nghèo: là hộ đói ăn không đủ, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất. Xã nghèo: là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch.
trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao. Vùng nghèo: là địa bàn tương đối rộng nằm ở những khu vực khó khăn, hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao [3, tr. ở CHDCND Lào: Nghèo được hiểu là vấn đề không đảm bảo được nhu cầu thiết yếu cơ bản về sinh hoạt hàng ngày như: thiếu lương thực (chất lượng khẩu phần thức ăn thấp dưới 2100 kg/ca/oly/ngày/người); thiếu mặc; lối sống không ổn định, không có khả năng tiếp cận về giáo dục, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 y tế và điều kiện đi lại gặp khó khăn. Hoặc quan niệm khác, nghèo không chỉ là mức thu nhập, tiêu dùng thấp và mức độ thấp của các thành quả trong giáo dục, y tế, trạng thái dinh dưỡng mà còn bao gồm tủi nhục - bạo lực rủi ro, không có tiếng nói và không có quyền lực.
Còn đói (với ý nghĩa biểu hiện trực tiếp là đói ăn, thiếu lương thực, thực phẩm để duy trì sự tồn tại của con người) thường chỉ có ở các nước nghèo, chậm phát triển. Đói cũng có hai dạng: đói kinh nghiệm và đói gay gắt chỉ mức độ và tính chất của đói là mức thấp nhất của nghèo. Đã lâm vào tình trạng đói. Đói: là sự đói ăn, thiếu lương thực, thực phẩm để nhằm duy trì nhu cầu tồn tại của con người.
Trong cuộc sống hàng ngày, đói bao giờ cũng gắn liền với nghèo, do nghèo mà không thể giải quyết được sự thiếu ăn, thiếu lương thực, không có điều kiện trao đổi mua bán với các cá nhân khác trong cộng đồng, khi mà bản thân không tự đáp ứng đủ lương thực, thực phẩm cho nhu cầu cần thiết [12, tr.