Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng đói nghèo tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa luôn là thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của quốc gia. Theo số liệu thống kê năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 11,76% (tương đương 2.885 nghìn hộ) và hộ cận nghèo là 6,98%. Tại tỉnh Nghệ An, số liệu năm 2013 ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo lên tới 18,79% trên tổng số 734.002 hộ và tỷ lệ cận nghèo là 15,97%, cao hơn đáng kể so với mức bình quân chung của cả nước. Trong bối cảnh đó, tộc người Đan Lai với quy mô dân số hơn 3.000 người sinh sống tập trung tại huyện Con Cuông, đặc biệt là gần 1.000 người cư trú biệt lập trong vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát, đang đối mặt với nguy cơ suy thoái giống nòi và tỷ lệ nghèo đói cùng cực.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện toàn diện thực trạng, bản chất và các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói kéo dài của tộc người Đan Lai, từ đó thiết lập hệ thống giải pháp quản lý kinh tế khả thi nhằm bảo tồn và phát triển cộng đồng này. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về xóa đói giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số; phân tích thực trạng sinh kế của 176 hộ gia đình Đan Lai tại 3 bản Cò Phạt, Khe Cồn, Bản Búng thuộc xã Môn Sơn; và đề xuất các phương hướng, giải pháp đồng bộ đến năm 2020.

Phạm vi không gian của đề tài tập trung tại vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát, thượng nguồn Khe Khặng, cách trung tâm huyện Con Cuông 40 km và cách thành phố Vinh 190 km. Phạm vi thời gian bao quát tiến trình phát triển từ năm 2000 đến năm 2014, với định hướng giải pháp đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá hiệu quả Đề án 280/2006/QĐ-TTg trị giá hơn 93 tỷ đồng của Thủ tướng Chính phủ, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo của tộc người Đan Lai xuống dưới 30% và giữ vững an ninh biên giới Việt - Lào.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển kinh tế bền vững kết hợp với các quan điểm tiếp cận nghèo đói hiện đại. Ba khung lý thuyết và mô hình trụ cột được áp dụng bao gồm:

Thứ nhất, lý thuyết phân tầng xã hội và nghèo đói đa chiều theo tiêu chuẩn của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương (ESCAP, 1993), xác định nghèo đói là tình trạng thiếu hụt khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản đã được xã hội thừa nhận. Quan điểm này phân định rõ nghèo tuyệt đối (thiếu hụt dinh dưỡng và nhu cầu sinh tồn tối thiểu) và nghèo tương đối (mức sống dưới trung bình xã hội).

Thứ hai, mô hình ngưỡng nghèo và an ninh lương thực của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Mô hình này lấy chuẩn tiêu thụ năng lượng từ 2.000 đến 2.200 kcal/người/ngày làm ranh giới nghèo lương thực, tương ứng mức chi phí tối thiểu 1.833.000 đồng/người/năm theo thời giá điều tra, kết hợp với chi tiêu phi lương thực để tạo thành ngưỡng nghèo chung.

Thứ ba, khung lý thuyết phát triển bền vững tích hợp ba trụ cột Kinh tế - Xã hội - Môi trường theo Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam (ban hành theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg). Các khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt gồm: bẫy nghèo đói (Poverty Trap), mức sống tối thiểu, sinh kế bền vững và an sinh xã hội vùng dân tộc thiểu số.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Con Cuông, các báo cáo tổng kết Chương trình 134, Chương trình 135, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP và các văn bản chỉ đạo của Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 - 2014.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra toàn bộ (census survey) với cỡ mẫu 176 hộ gia đình người Đan Lai sinh sống tại 3 bản Cò Phạt, Khe Cồn và Bản Búng thuộc xã Môn Sơn. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn vì quy mô quần thể nhỏ, tính chất cư trú tập trung nhưng cô lập cao, bảo đảm tính đại diện tuyệt đối và triệt tiêu sai số chọn mẫu. Đồng thời, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu bán cấu trúc đối với 25 cán bộ quản lý cấp huyện, lãnh đạo xã Môn Sơn, cán bộ Vườn Quốc gia Pù Mát và các già làng uy tín.

Phương pháp phân tích bao gồm: thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian, tổng hợp định tính và ứng dụng đường cong Lorenz với hệ số Gini (đạt mức 0,42 tại địa bàn nghiên cứu) để lượng hóa mức độ bất bình đẳng thu nhập. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm phản ánh chân thực các chỉ số phúc lợi thực tế, khắc phục hiện tượng sai lệch thống kê do điều chỉnh chuẩn nghèo qua các thời kỳ. Timeline nghiên cứu thực địa được triển khai liên tục từ đầu năm 2014 đến giữa năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm rõ bức tranh nghèo đói đặc thù của tộc người Đan Lai với 4 phát hiện căn bản:

Thứ nhất, tỷ lệ hộ nghèo ở mức cùng cực và kéo dài qua nhiều thế hệ. Mặc dù công tác cứu trợ đã giúp xóa bỏ nạn đói đứt bữa kinh niên, song tỷ lệ hộ nghèo tại 2 bản vùng lõi Cò Phạt và Bản Búng vẫn chiếm trên 85% tổng số hộ, cao gấp 4,5 lần so với mức nghèo bình quân của tỉnh Nghệ An (18,79%) và cao gấp hơn 7 lần mức bình quân cả nước (11,76%).

Thứ hai, tư liệu sản xuất và hạ tầng kỹ thuật bị thiếu hụt trầm trọng. Điển hình tại Bản Búng, 87 hộ với 436 nhân khẩu chỉ có diện tích đất canh tác nương rẫy chưa đầy 10 ha, bình quân đạt chưa tới 0,023 ha/người. Đất đai khô cằn bị xói mòn và bạc màu khiến năng suất cây trồng suy giảm nghiêm trọng. Thu nhập từ khai thác lâm sản phụ rất bấp bênh: mỗi ngày một lao động thu được 7 đến 8 kg măng tươi, chế biến thành khoảng 2 kg măng khô với giá bán khoảng 40.000 đồng/kg, nhưng mùa vụ thu hoạch chỉ kéo dài vỏn vẹn 1 đến 2 tuần mỗi năm.

Thứ ba, suy thoái thể chất và rào cản tập quán lạc hậu. Tình trạng hôn nhân nội tộc, kết hôn cận huyết thống diễn ra phổ biến khiến tuổi thọ trung bình suy giảm, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng vượt mức 65%. Tập quán ngủ ngồi bằng chạc cây để đề phòng thú dữ cùng thói quen sử dụng rượu liên tục trong các dịp lễ hội kéo dài tới 20 ngày đã làm cạn kiệt nguồn lực tích lũy kinh tế của hộ gia đình.

Thứ tư, tiến độ triển khai các dự án can thiệp còn chậm so với mục tiêu đề ra. Theo Đề án 280/2006/QĐ-TTg với kinh phí hơn 93 tỷ đồng, đến năm 2008 huyện Con Cuông mới chỉ di dời được 42 hộ với 193 nhân khẩu ra lập bản tái định cư tại xã Thạch Sơn. Trong rừng sâu Pù Mát vẫn còn khoảng 150 hộ với hơn 800 nhân khẩu chưa được di dời, tiếp tục sống trong điều kiện không điện, không đường giao thông cơ giới, không trạm y tế chuẩn hóa.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng nghèo đói tại vùng Đan Lai là sự đan xen giữa yếu tố tự nhiên khắc nghiệt và năng lực nội sinh hạn chế. Khoảng cách 40 km đường rừng hiểm trở ngăn cách cộng đồng với thị trường tiêu thụ hàng hóa, tạo nên nền kinh tế tự cấp tự túc hoàn toàn dựa vào săn bắt, hái lượm và chọc lỗ tra hạt. Tâm lý tự ti, ỷ lại vào các gói hỗ trợ của Nhà nước đã cản trở việc tiếp thu kỹ thuật canh tác mới.

Khi so sánh với kinh nghiệm giảm nghèo tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nơi thực hiện Nghị quyết 13 về kinh tế gò đồi, đưa tỷ lệ hộ dùng điện lưới lên trên 80%) và tỉnh Quảng Nam (Chương trình 134 xóa nhà tạm cho hơn 15.000 hộ, đạt trên 90%), công tác xóa đói giảm nghèo tại Con Cuông còn thiếu tính bền vững do chưa gắn kết giữa quy hoạch tái định cư với giao khoán bảo vệ rừng có chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp qua bảng phân tích cơ cấu chi tiêu cho thấy hơn 80% thu nhập của hộ Đan Lai dành cho lương thực và rượu, trong khi chi tiêu cho y tế, giáo dục và tái đầu tư sản xuất chiếm dưới 5%. Mô hình hóa mối quan hệ này qua biểu đồ chuỗi tác động khẳng định: địa hình chia cắt dẫn tới thiếu đất sản xuất, dẫn tới phương thức canh tác thô sơ, kết hợp với hôn nhân cận huyết tạo thành vòng luẩn quẩn của bẫy nghèo đói không thể tự thoát nếu thiếu sự can thiệp từ bên ngoài.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để tình trạng nghèo đói và bảo tồn bền vững tộc người Đan Lai, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, đẩy nhanh tiến độ di dân tái định cư gắn với giao đất sản xuất. Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An và Ủy ban Nhân dân huyện Con Cuông cần tập trung nguồn lực thực hiện dứt điểm Đề án 280/2006/QĐ-TTg, phấn đấu di dời toàn bộ 150 hộ dân còn lại tại bản Cò Phạt và Bản Búng về các vùng quy hoạch mới trước năm 2018. Mỗi hộ tái định cư phải được cấp tối thiểu 400 m2 đất ở và từ 1 đến 1,5 ha đất sản xuất nông lâm nghiệp ổn định.

Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Phòng Nông nghiệp và Trạm Khuyến nông huyện Con Cuông cần hướng dẫn đồng bào từ bỏ phương thức chọc lỗ tra hạt, khai hoang 50 ha ruộng bậc thang để trồng lúa nước 2 vụ, đưa các giống lúa chịu sâu bệnh và ngô lai năng suất cao vào canh tác. Mục tiêu nâng mức lương thực bình quân đạt 300 kg quy thóc/người/năm trong giai đoạn 2016 - 2020. Đồng thời, triển khai mô hình chăn nuôi trâu, bò địa phương và lợn đen bản địa theo phương thức bán chăn thả.

Thứ ba, hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông và dịch vụ an sinh xã hội. Sở Giao thông Vận tải và Sở Nông nghiệp tỉnh Nghệ An cần ưu tiên bố trí vốn mở tuyến đường cấp phối kiên cố kết nối xã Môn Sơn với các bản tái định cư trước năm 2017. Ngành Giáo dục và Y tế phối hợp triển khai chính sách miễn 100% học phí, cấp phát thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và duy trì các lớp mẫu giáo, tiểu học bán trú cắm bản nhằm đạt tỷ lệ 100% trẻ em trong độ tuổi được đến trường.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông bài trừ hủ tục và bảo tồn văn hóa. Trung tâm Y tế huyện Con Cuông cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ đẩy mạnh tuyên truyền Luật Hôn nhân và Gia đình, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn nạn kết hôn cận huyết thống vào năm 2020. Song song đó, quy hoạch các bản tái định cư thành điểm du lịch sinh thái - văn hóa cộng đồng gắn với tuyến du lịch Vườn Quốc gia Pù Mát, tạo nguồn thu dịch vụ bền vững cho người dân địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu chuyên khảo mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý công tác dân tộc tại Ủy ban Dân tộc, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Nhân dân các huyện miền núi tỉnh Nghệ An. Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực chứng và cơ chế điều phối chính sách an sinh xã hội cho các nhóm dân tộc thiểu số rất ít người.

Nhóm thứ hai là Ban Quản lý các Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên (như Vườn Quốc gia Pù Mát, Vườn Quốc gia Bạch Mã). Luận văn gợi mở cách giải quyết bài toán xung đột lợi ích giữa mục tiêu bảo tồn nghiêm ngặt vùng lõi rừng đặc dụng và quyền an cư, phát triển sinh kế của cộng đồng bản địa.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Xã hội học và Nhân học. Tài liệu này cung cấp phương pháp tiếp cận điều tra xã hội học định lượng kết hợp định tính đối với nhóm cư dân vùng biệt lập.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ quốc tế (như Ngân hàng Thế giới, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc UNDP). Luận văn đóng vai trò là hồ sơ đánh giá tiền khả thi cho các dự án viện trợ không hoàn lại về chăm sóc sức khỏe sinh sản, cấp nước sạch và dinh dưỡng học đường tại vùng lõi miền Tây Nghệ An.

Câu hỏi thường gặp

Tộc người Đan Lai có nguồn gốc lịch sử như thế nào và hiện sinh sống ở đâu? Theo lời kể dân gian và nghiên cứu nhân học, tộc người Đan Lai vốn thuộc dòng họ La (gốc người Kinh) trốn chạy bạo chúa phong kiến lên thượng nguồn sông Giăng cách đây hàng trăm năm. Hiện nay cộng đồng có hơn 3.000 người sinh sống tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, trong đó phần lớn tập trung tại xã Môn Sơn ở độ cao 1.200 m so với mực nước biển.

Tại sao tỷ lệ hộ nghèo của tộc người Đan Lai lại ở mức cao trên 85%? Nguyên nhân chủ yếu do địa bàn cư trú cách trung tâm huyện 40 km đường rừng hiểm trở, thiếu đường giao thông cơ giới, diện tích đất canh tác bình quân dưới 0,023 ha/người, kỹ thuật sản xuất lạc hậu không dùng phân bón và tình trạng hôn nhân cận huyết gây suy thoái thể chất.

Đề án 280/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đạt được những kết quả gì? Đề án có tổng mức đầu tư trên 93 tỷ đồng, đã hoàn thành xây dựng khu tái định cư và di dời 42 hộ với 193 nhân khẩu Đan Lai ra xã Thạch Sơn vào năm 2008, đồng thời đầu tư bước đầu về phòng học cắm bản và trạm y tế cơ sở tại xã Môn Sơn.

Giải pháp nào được đánh giá là mang tính đột phá về phát triển kinh tế cho người Đan Lai? Giải pháp đột phá là chuyển đổi từ tập quán phát nương làm rẫy, chọc lỗ tra hạt sang khai hoang thâm canh 50 ha lúa nước hai vụ, áp dụng giống lúa chịu hạn kết hợp giao khoán bảo vệ rừng đặc dụng để tạo nguồn thu nhập dịch vụ môi trường rừng ổn định.

Việc di dời người Đan Lai ra khỏi vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát có ý nghĩa gì đối với công tác bảo tồn? Di dời người dân giúp chấm dứt triệt để nạn chặt phá rừng làm rẫy và săn bắt động vật hoang dã, bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát, đồng thời giúp cộng đồng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và điện lưới quốc gia.

Kết luận

Nội dung toàn diện của luận văn được tổng kết qua 5 điểm cốt lõi sau:

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý thuyết về nghèo đói đa chiều, chuẩn nghèo theo tiêu chuẩn quốc tế và quan điểm phát triển bền vững 3 trụ cột áp dụng cho vùng đồng bào thiểu số.
  • Phân tích chi tiết thực trạng nghèo cùng cực của 176 hộ người Đan Lai tại xã Môn Sơn, chỉ ra sự thiếu hụt nghiêm trọng về đất sản xuất khi 87 hộ bản Búng chỉ có dưới 10 ha đất nương.
  • Đúc kết 3 bài học kinh nghiệm giá trị từ Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Thái Nguyên về quy hoạch định canh định cư, giao đất lâm nghiệp và đào tạo cán bộ dân tộc tại chỗ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa tái định cư tập trung, chuyển đổi nông nghiệp lúa nước, nâng cấp hạ tầng giao thông và bài trừ hôn nhân cận huyết.
  • Xác lập các mốc chỉ tiêu định lượng rõ ràng nhằm đưa mức lương thực đạt 300 kg/người/năm và hạ tỷ lệ nghèo đói của tộc người Đan Lai xuống mức thấp nhất vào năm 2020.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã cung cấp một công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên dưới góc độ Quản lý kinh tế về tộc người Đan Lai, giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa bảo tồn đa dạng sinh học Vườn Quốc gia Pù Mát và bảo tồn giống nòi tộc người thiểu số. Lộ trình thực hiện tiếp theo yêu cầu các cơ quan ban ngành tỉnh Nghệ An tập trung giải ngân vốn trong giai đoạn 2016 - 2018 để hoàn tất việc di dời các hộ dân còn lại ra khỏi vùng lõi, tiếp tục hoàn thiện hạ tầng thủy lợi và trạm y tế đến năm 2020. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu cần khai thác sâu kết quả luận văn này để ban hành những chính sách an sinh đặc thù, bảo đảm quyền phát triển bình đẳng cho các tộc người thiểu số đặc biệt khó khăn tại Việt Nam.