phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, nội dung đề tài bao gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xoá đói giảm nghèo vùng các dân tộc thiểu số - Chƣơng 2: Thực trạng nghèo đói và xóa đói giảm nghèo vùng tộc ngƣời Đan Lai (huyện Con Cuông - tỉnh Nghệ An) - Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp xoá đói giảm nghèo vùng tộc ngƣời Đan Lai trong thời gian tới (LUAN.An 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.An CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÙNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Đặc điểm, vai trò của đói nghèo và xóa đói giảm nghèo ở vùng các dân tộc thiểu số 1. Quan niệm về đói nghèo Đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống nhỏ hơn mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống tối thiểu không thỏa mãn nhu cầu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp… Đói nghèo là một hiện tƣợng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc.
Nó là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian. Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đƣa ra nhiều khái niệm khác nhau, trong đó có khái niệm khái quát hơn cả đƣợc nêu ra tại Hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo ở khu vực châu Á Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức tại Thái Lan vào tháng 9/1993, các quốc gia đã thống nhất cho rằng: Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời đã đƣợc xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phƣơng. Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo, đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới nhất trí sử dụng, trong đó có Việt Nam. Để đánh giá đúng mức độ nghèo, ngƣời ta chia nghèo thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối.
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống nhƣ nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế… (LUAN.An 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.An Nghèo tƣơng đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức trung bình của địa phƣơng, ở một thời kì nhất định. Chuẩn đói nghèo: Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ giàu nghèo. Việt Nam đƣa ra chuẩn đói từ 2-1997 đến 1-1-2000 hộ đói là hộ có thu nhập dƣới 13kg gạo/ngƣời/tháng, tƣơng đƣơng với 45. Năm 2000, Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội đƣa ra ngƣỡng nghèo mới làm căn cứ xác định mục tiêu xoá đói giảm nghèo cho giai đoạn 2001 - 2005.
Ngƣỡng nghèo đó đƣợc ấn định cho từng khu vực: nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/ngƣời/tháng; nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/ngƣời/tháng; thành thị: 150.000 đồng/ngƣời/tháng. Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ký ngày 08 Tháng 07 năm 2005 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010, Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/ngƣời/tháng (2.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo.Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/ngƣời/tháng (dƣới 3.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo. Chuẩn nghèo mới đƣợc Chính phủ chính thức thông qua và có hiệu lực từ năm 2011 đến năm 2015 cho khu vực nông thôn là 400.000 đồng/ngƣời/ tháng và 500.000 đồng/ngƣời/tháng cho khu vực thành thị. Những cách tiếp cận về đói nghèo *Theo cách tiếp cận hẹp: Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cƣ là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cƣ khác.
Theo cách tiếp cận này về vấn đề nghèo đói chƣa bao quát đƣợc tính chất tuyệt đối của nghèo đói, nghĩa là mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn nghèo đói tƣơng đối, mà trên thực tế thì lúc nào trong xã hội hiện đại cũng tồn tại nghèo đói kể cả ở những quốc gia giàu nhất. Nếu đứng trên phƣơng diện so sánh mức sống, mức thu nhập của các nhóm (LUAN.An 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.An dân cƣ thì lúc nào cũng có một nhóm dân cƣ đứng thấp nhất, nhóm đứng cao nhất và các nhóm trung bình. Đó là nghèo đói tƣơng đối. Nhƣng thực tế ở nhiều quốc gia nghèo, ngay trong nhóm nghèo nhất cũng đã xuất hiện nhóm nghèo đói tuyệt đối, nghĩa là họ sống một cuộc sống cùng cực, ở tạm bợ và lo lắng về từng bữa ăn.
Cách tiếp cận này là cách tiếp cận phổ biến hiện nay. Những ngƣời theo quan điểm này có xu hƣớng tìm kiếm một chuẩn nghèo chung để đánh giá mức độ nghèo đói của từng nhóm dân cƣ, mà không đi sâu vào giải quyết những nguyên nhân sâu xa, những căn nguyên sâu xa, bản chất bên trong của vấn đề, tức là cơ chế nội tại của nền kinh tế đang hàng ngày hàng giờ đẩy một nhóm dân cƣ đi vào tình trạng nghèo đói nhƣ một xu thế tất yếu xẩy ra. Do đó các biện pháp tấn công nghèo đói đƣa ra trên theo quan điểm này thƣờng thiếu triệt để, họ chỉ dừng lại ở các biện pháp hỗ trợ tài chính, kinh tế, và các biện pháp kỹ thuật cho nhóm dân cƣ nghèo đói đó, nó sẽ không tạo đƣợc động lực để bản thân những ngƣời nghèo tự mình vƣơn lên trong cuộc sống. *Theo cách tiếp cận rộng: Vấn đề nghèo đói theo quan điểm này đƣợc tiếp cận từ phƣơng pháp luận cho rằng căn nguyên sâu xa của nghèo đói là do trong xã hội có sự phân hoá giầu nghèo, mà chính sự phân hoá đó là hệ quả của chế độ kinh tế xã hội.
Trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, khi mà năng suất lao động còn thấp, chƣa có tích luỹ thì giữa con ngƣời chƣa có sự phân hoá giầu nghèo. Nhƣng khi xã hội càng phát triển, có sự phân công lao động trong lực lƣợng sản suất, xã hội đã bắt đầu có tích luỹ thì cấu trúc xã hội trên quan hệ thị tộc cũng đã bắt đầu biến đổi, xuất hiện chiếm hữu tƣ nhân và trao đổi hàng hoá. Xã hội đã phân chia thành nhiều giai cấp nhất định sẽ có ngƣời giầu ngƣời nghèo. Đây là mầm mống của những xung đột giữa các giai cấp.
Cách tiếp cận rộng cho phép nhìn nhận nghèo đói một cách toàn diện, đặt hiện (LUAN.An 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.An tƣợng nghèo đói trong sự so sánh với giầu có và các quan hệ kinh tế - xã hội khác. *Cách tiếp cận của ESCAP: Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đƣa ra nhiều khái niệm khác nhau, trong đó có khái niệm khái quát hơn cả đƣợc nêu ra tại Hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo ở khu vực châu Á Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức tại Thái Lan vào tháng 9/1993, các quốc gia đã thống nhất cho rằng: Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời đã đƣợc xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phƣơng. Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo, đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới nhất trí sử dụng, trong đó có Việt Nam. Nghèo thành đƣợc phân chia thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối.
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống nhƣ nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế… Nghèo tƣơng đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức trung bình của địa phƣơng, ở một thời kì nhất định. Từ những cách tiếp cận vấn đề nghèo đói chúng ta có thể rút ra đƣợc những kết luận sau: - Phân hoá giàu nghèo không những là hệ quả của các xã hội có giai cấp và phân chia giai cấp, mà còn thể hiện bản chất sâu xa của các xung đột xã hội giữa lớp ngƣời giàu lớp ngƣời nghèo. Giải quyết căn bản vấn đề này chỉ có thể trên cơ sở giải quyết căn bản vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. - Phân hoá giàu nghèo là hiện tƣợng phát sinh trong quá trình thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Bởi vậy nếu không xử lý kịp thời, huặc không có cơ chế duy trì sự công bằng nhất định hay hạn chế quá trình làm trầm trọng thêm hố (LUAN.An 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.An ngăn cách giữa lớp ngƣời giầu và lớp ngƣời nghèo, thì nguy cơ phân tầng xã hội, phân hoá giai cấp cũng sẽ diễn ra. - Chủ thể có đầy đủ khả năng điều hòa thu nhập giữa các nhóm dân cƣ là Nhà nƣớc, tuy nhiên do bản chất nhà nƣớc ở các chế độ, cũng nhƣ định hƣớng chính trị khác nhau là rất khác nhau nên năng lực cũng nhƣ tính triệt để của các giải pháp xủ lý hố ngăn cách giầu nghèo có thể dựa trên cách tiếp cận rộng hay hẹp tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, trong từng thời điểm lịch sử nhất định. Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà là vấn đề mang tính toàn cầu, bởi vì tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cả những giàu mạnh thì ngƣời nghèo vẫn còn và có lẽ khó có thể hết ngƣời nghèo khi trong các xã hội chƣa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội, môi trƣờng và sự bất bình đẳng trong phân phối của cải làm ra. Rủi ro quá nhiều trong sản xuất và đời sống làm cho một bộ phận dân cƣ rơi vào tình trạng nghèo.
Tháng 3/1995, tại Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới về phát triển xã hội ở Copenhagen Đan Mạch, những ngƣời đứng đầu các quốc gia đã trịnh trong tuyên bố: Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây nhƣ một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị, kinh tế của nhân loại. Chuẩn đói nghèo Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ giàu nghèo. Việt Nam đƣa ra chuẩn đói từ 2-1997 đến 1-1-2000 hộ đói là hộ có thu nhập dƣới 13kg gạo/ngƣời/tháng, tƣơng đƣơng với 45.