CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN 1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN (FACTORING) 1.1 Khái niệm Bao thanh toán: Trong lịch sử, đã có nhiều khái niệm khác nhau mô tả về nghiệp vụ BTT này: Theo Từ điển kinh tế (Dictionary of economic – Christopher & Bryan Lones) “BTT –factoring - là một sự dàn xếp tài chính, qua đó một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ - factor firm) mua lại các khoản nợ của một công ty với một số tiền ít hơn giá trị của khoản nợ đó. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu được của số nợ đã mua và giá mua thực tế của món nợ đó. Lợi ích của công ty bán nợ là nhận được tiền ngay thay vì phải chờ tới lúc con nợ trả nợ, hơn nữa, tránh được những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi các con nợ chậm trả”. Theo Công ước về BTT quốc tế UNIDROIT 1988 (Unidroit Convention on Internatonal Factoring): “BTT là một dạng tài trợ tín dụng bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: tài trợ bên cung ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ của các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng”.
Hiệp hội BTT thế giới FCI thì định nghĩa: BTT là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ. Đó là một sự thỏa thuận giữa người cung cấp dịch vụ BTT với người cung ứng hàng hóa dịch vụ hay còn gọi là người bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa. Theo như thỏa thuận, đơn vị BTT sẽ mua lại các khoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua trong quan hệ mua bán hàng hóa hay còn gọi là con nợ trong quan hệ tín dụng. Quy chế hoạt động BTT được ban hành theo quyết định 1096/2004-NHNN ngày 06/09/2004 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam định nghĩa: “BTT là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải 123doc 11 thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng” Như vậy, đơn vị BTT làm chức năng là một đơn vị chấp thuận tín dụng đồng thời là một đơn vị cung cấp tiện ích quản lý sổ cái, thu hồi khoản phải thu và bảo lãnh thanh toán.
Dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về nghiệp vụ bao thanh toán, nói chung có thể hiểu nghiệp vụ bao thanh toán chính là hình thức tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ, đó chính là hoạt động mua bán nợ. Nhờ có sự chuyên môn hóa cao việc thu hồi nợ nên sau khi mua lại các khoản nợ, đơn vị mua nợ có thể nâng cao được hiệu suất thu hồi nợ và giảm chi phí thu hồi nợ nhờ lợi thế về quy mô. Về phía công ty bán nợ, sau khi bán các khoản phải thu sẽ khỏi phải bận tâm đến việc thu nợ, mà chỉ tập trung vào sản xuất kinh doanh.2 Lợi ích và hạn chế khi sử dụng sản phẩm Bao thanh toán: 1.1 Đối với người bán hàng: đơn vị được bao thanh toán Lợi ích: Người hưởng lợi đầu tiên, dễ thấy và đáng kể nhất trong nghiệp vụ BTT là bên bán hàng. Viêc sử dụng các dịch vụ tài chính trong gói sản phẩm BTT có thể mang lại cho người bán các lợi ích sau: - Bên bán có thể thu tiền ngay thay vì phải đợi đến khi khoản phải thu đến hạn thanh toán như đã thỏa thuận với người mua, nhờ đó, sẽ cải thiện luồng tiền mặt, có nguồn tài chính đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định.
BTT cho phép khách hàng vay tiền ngay lập tức dựa trên số lượng bán hàng của họ, đồng thời vẫn bảo đảm cho phép khách hàng giữ được thời hạn bán hàng bình thường. Kết quả, doanh số bán hàng tăng, luồng tiền mặt của bên bán hàng được cải thiện. Điều này cho phép bên bán được tận dụng lợi thế chiết khấu khi bán hàng, đương đầu với nhu cầu hàng hóa lưu kho tăng cao và đáp ứng được những yêu cầu tài trợ có tính thời vụ. - Với nguồn vốn được hỗ trợ từ các đơn vị BTT, người bán có thể đảm bảo uy tín thanh toán tiền mua hàng cho nhà cung cấp, dự trữ được nhiều hàng hóa hơn và có thể nhận được ưu đãi khi mua hàng với số lượng lớn.
Đồng thời, cũng có thể sinh lợi từ nguồn vốn này do tranh thủ được các cơ hội kinh doanh mới - Bên bán có được những lợi thế nhất định trong kinh doanh và quan hệ thương mại. Khoản ứng trước của đơn vị BTT trong việc cấp tín dụng và dự trù rủi ro tín dụng 123doc 12 thường cho phép doanh nghiệp (bên bán hàng) giao thêm nhiều hàng hóa cho khách hàng hơn. Cũng như vậy, doanh nghiệp có thể chọn lựa gia hạn thời gian bán hàng cho khách hàng, cho phép họ tiến hành công việc kinh doanh mới hoặc là tiến hành nhiều phi vụ kinh doanh hơn với các khách hàng hiện tại. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc bên bán có thể phát triển hoạt động kinh doanh của mình một cách hiệu quả nhất, tạo được nhiều lợi thế trong kinh doanh và nâng cao tầm ảnh hưởng, uy tín của mình đối với các đối tác kinh doanh.
- Bên bán được sử dụng khoản phải thu để bảo đảm một phần hoặc toàn bộ khoản ứng trước, có thể sử dụng tín dụng của ngân hàng mà khỏi phải phụ thuộc vào tài sản đảm bảo. - Bên bán có cơ hội tiếp cận với những cơ hội giao thương quốc tế mới khi BTT được áp dụng rộng rãi, được sự tư vấn của đơn vị BTT để hạn chế những rủi ro trong quan hệ mua bán với đối tác nước ngoài tới mức thấp nhất. - Bên bán có thể tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc theo dõi và thu hồi khoản phải thu hay là dòng tiền vào phải thu: Người bán không cần phải tốn chi phí để duy trì và điều hành một bộ phận chuyên trách việc xem xét khách hàng có đủ điều kiện mua chịu hay không cũng như phải tốn công để kiểm tra và thu hồi các khoản công nợ. Với kinh nghiệm cơ sở vật chất và nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, các đơn vị BTT sẽ giải quyết nhanh chóng, chuyên nghiệp và hiệu quả mọi vấn đề liên quan đến các hóa đơn và việc thu hồi nợ.
BTT cho phép doanh nghiệp đánh đổi chí phí cố định cao do duy trì hoạt động dự phòng tín dụng và thu nợ, lấy chi phí dựa trên khối lượng doanh thu. Ngoài ra, các đơn vị BTT còn có thể lập các báo cáo quản lý thu nợ và bán hàng mà không phải khách hàng được BTT nào cũng có thể thực hiện được. - Bên bán hàng được đơn vị BTT hỗ trợ đánh giá tình hình kinh doanh và uy tín tín dụng của bên mua hàng trước khi giao hàng: Trong quá trình giao dịch với các đơn vị BTT, người bán hàng có cơ hội đánh giá đối tác kinh doanh của mình thông qua kết quả thẩm định chất lượng khoản phải thu của đơn vị BTT. Biết được mình đang làm ăn với người thế nào cũng là một cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục phát triển mối quan hệ thương mại trong tương lai - Bên bán cũng được ngân hàng bảo hiểm rủi ro bán chịu hàng hóa đối với người bán chịu hàng hóa, nếu sử dụng hình thức bao thanh toán miễn truy đòi sẽ loại trừ được những khoản nợ xấu.
Nguyên nhân là do đơn vị BTT luôn dự trù một khoản tổn thất tín dụng phòng trừ khả năng không trả được nợ của bên mua, và có trách nhiệm tư vấn 123doc 13 những rủi ro trong quan hệ mua bán cho bên bán, theo dõi sổ sách thu hồi công nợ…Vì vậy, bên bán sẽ được bảo vệ khỏi những rủi ro nợ xấu. Việc này rất có lợi cho bên bán hàng khi quan hệ mua bán được thực hiện ra khỏi phạm vi một quốc gia hay là đối với những ngành công nghiệp mới. Hạn chế: - Mối quan hệ của DN với các khách hàng của mình có thể bị ảnh hưởng bởi đơn vị BTT. Một vài ý kiến cho rằng, sử dụng BTT cũng có bất lợi như đối tác sẽ có ấn tượng không tốt về tình hình tài chính của người bán hàng.
Việc bán các khoản phải thu trong trường hợp này là bán các khoản phải thu lành mạnh. Và BTT không chỉ đơn thuần hỗ trợ thiếu hụt tài chính tạm thời mà còn là một tiện ích ngân hàng hiện đại giúp cho hoạt động kinh doanh của người bán diễn ra thuận lợi hơn. - Khi có tranh chấp xảy ra giữa người mua và người bán đối với một hoặc một số giao dịch, đơn vị BTT sẽ không thanh toán/tạm ứng hoặc truy đòi lại những khoản đã thanh toán/tạm ứng cho những giao dịch tranh chấp đó. Tuy nhiên, đơn vị BTT sẽ hỗ trợ người bán trong việc giải quyết tranh chấp với người mua.
Đối với bên mua hàng Mối e ngại về uy tín thanh toán của đối tác cũng như những hạn chế về năng lực tài chính của bản thân người bán luôn là nguyên nhân dẫn đến việc giới hạn giá trị cũng như thời hạn ưu đãi thanh toán trong các giao dịch thương mại. Với sự phát triển của BTT, người mua có điều kiện thuận lợi để có thể đạt được những thỏa thuận làm ăn dễ chịu hơn. Tuy các lợi ích mà BTT mang lại cho người mua khi tham gia BTT không nhiều như người bán. Song, đối với những người mua uy tín, khi tham gia vào nghiệp vụ BTT sẽ được hưởng một số lợi ích sau: - Được mua hàng theo điều khoản thanh toán sau ưu đãi dễ dàng hơn và gián tiếp hưởng lợi tài chính từ việc sử dụng tín dụng người bán để tài trợ vốn lưu động.
Vì, bên bán hàng đã được đơn vị BTT ứng vốn trước và nhờ vậy bên mua hàng có thể tăng sức mua hàng mà vẫn không vượt quá hạn mức tín dụng cho phép, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.