Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm được sử dụng trong luận văn Ad. Khai niệm giáng viên Giảng viên là viên chức trực tiếp thực hiện công tác giảng dạy và đào tạo tại các cơ sở dao tạo đại hoc, cao đăng trên toàn quôc.
Với tư cách là những người giảng dạy trong nhà trường và các cơ sở giáo dục, giảng viên trước hêt phải hoàn thành những nhiệm vụ của nhà giáo được quy định tại điều 63 Luật Giáo dục [30;đ63jJ, cụ thé là: Giáo duc, giảng day theo mục tiêu, nguyên lý, chương trình giáo duc; Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ của nhà trường; Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người học; Không ngừng học tập rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nêu gương tốt cho người học. Bên cạnh đó, với tư cách là chuyên môn đảm nhận công tác giảng dạy ở bậc đại học, cao đăng, giảng viên phải hoàn thành các nhiệm vụ chính sau: Giảng dạy đại học, bôi dưỡng sau đại học, hướng dẫn nghiên cứu sinh, thực tập sinh và bôi dưỡng cán bộ giảng dạy; Nghiên cứu và thực nghiệm khoa học kỹ thuật; Học tập bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ và chuyên môn; Tham gia quản lý công tác đào tạo của nhà trường; Thực hiện những công tác chung cua xã hội theo chức trách của một can bộ nha nước (lao động nghĩa vụ, luyện tập quán sự) Ngày 28 tháng 11 năm 2008, Bộ Giáo dục và Dao tạo đã ra Quyết định số 64/2008 quy định về chế độ làm việc đối với giảng viên. Theo đó, nhiệm vụ của giảng viên được quy định tại chương 2 của Quyết định, gồm: Nhiệm vụ giảng day, nghiên cứu khoa hoc và chuyển giao công nghệ, học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ và nhiệm vụ tham gia công tác quản lý đào tạo, quản lý hoạt động khoa học và công nghệ. Những hoạt động sau đây được xếp vào nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyền giao công nghệ [2;tr.6]: - Chủ trì hoặc tham gia tổ chức, chi đạo, thực hiện các chương trình, đề án, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
- Nghiên cứu KH&CN để phục vụ xây dựng chương trình đào tạo, béi dưỡng, biên soạn giáo trình, sách chuyên khảo, tài liệu tham khảo, đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra, đánh giá môn học. - Công bô kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. - Viết chuyên dé, tham luận tại các hội nghị, hội thảo khoa học ở trong và ngoài nước. - Tổ chức và tham gia các hội thảo khoa học cua khoa, bộ môn; hướng dẫn người học nghiên cứu khoa học.
- Thực hiện các hợp đông nghiên cứu khoa học, chuyển giao kỹ thuật và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế — xã hội. - Tự vấn về chuyển giao công nghệ, tư van kỹ thuật, kinh tế, chính tri, xã hội thuộc lĩnh vực chuyên môn của giảng viên. - Tổ chức và tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về nghiên cứu KH&CN. - Tham gia các cuộc thi sang tao và các hoạt động khác về KH&CN.
- Thâm nhập thực tiễn, phổ biến kiến thức khoa học phục vụ đời sống. Như vậy, có thê thây các nhiệm vụ trên có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó nghiên cứu khoa học va thực nghiệm là một trong những nhiệm vụ cơ bản của giảng viên, luôn đi đôi với hoạt động giảng dạy. Theo quy định mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổng quỹ thời gian làm việc của giảng viên bình quân trong một năm học là 1760 giờ sau khi trừ các ngày được nghỉ Tết, nghỉ học kỳ. Tổng quỹ thời gian này được phân chia theo chức danh giảng viên cho từng nhiệm vụ cụ thê như sau: Bảng 1.
Bảng định mức giờ làm việc của giảng viên trong một năm học Phó giáo sư và Giáo sư và giảng Nhiệm vụ Giảng viên | giảng viên chính viên cao cấp Giảng dạy 900 giờ 900 giờ 900 giờ Nghiên cứu khoa học | 500 giờ 600 giờ 700 giờ Hoạt động chuyên | 360 giờ 260 giờ 160 giờ môn và các nhiệm vụ khác Nguồn: Trường Đại học Lao động — Xó hội: Quy định tạm thời về chế độ cung tóc của giảng vidn ngày 7/4/2006 Quỹ thời gian làm việc trên được quy đôi ra mức giờ chuân. Giờ chuân giảng day là đơn vị thời gian quy đôi từ số giờ lao động cần thiết dé hoàn thành một khối lượng công việc nhất định thuộc nhiệm vụ giảng dạy của giảng viên tương đương với việc thực hiện một tiết giảng lý thuyết trực tiếp trên lớp. Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy của giảng viên theo quy định của Bộ Giáo duc va Dao tạo là: Bảng 1. Định mức giờ giảng tính theo giờ chuẩn của giảng viên đại học Chức danh giảng viên Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy Quy định chung cho Môn Giáo duc thé 13 các môn chất, giáo dục quốc phòng ở trường không chuyên Giáo sư và giảng viên 360 giờ chuẩn 500 giờ chuẩn cao cấp Phó giáo sư và giảng 320 giờ chuân 460 giờ chuẩn viên chính Giảng viên 280 giờ chuẩn 420 giờ chuẩn Nguồn: Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT- Bộ Giỏo duc và Đào tạo Căn cứ vào các quy định trước đây của Bộ Giáo dục va Dao tạo, trường đại học Lao động — Xã hội đã xây dựng mức chuẩn cho giảng viên của mình theo thâm niên công tác như sau: Bang 1.
Định mức giờ giảng tính theo giờ chuẩn trong một năm học áp dụng cho giảng viên Trường đại học Lao động — Xã hội Giáo sư, | Giản | Giảng | Giảng | Giản giảng g |viênfừ| viên g ST Các loại công việc viên cao | viên | 5 năm | dưới 5 | viên T cấp chính | trở lên | năm | tập sự 1 Công tác chuyên môn (Soạn bài, giảng bài, hướng dẫn học tập, chấm th) - Giao viên giảng các môn | 290 270 1260 200 100 khoa học xã hội, chính tri và chuyên ngành - Giáo viên giảng các môn | 310 290 1280 210 110 14 kỹ thuật, ngoại ngữ, khoa học tự nhiên - Giáo viên Giáo dục thể | 357 332 320 250 150 chất Tự boi dưỡng kiến thức Nghiên cứu khoa học 89 80 57 18 18 Sinh hoạt chuyên môn va hội nghị khoa học Lao động nghĩa vụ 18 18 18 18 18 Luyén tap quan su 20 20 20 20 20 Nguon: Trường Dai học Lao động — Xó hội: Quy định tạm thời về chế độ cụng tóc của giảng viờn ngày 7/4/2006 Theo quy định mới tại quyết định số 64/2008/QD-BGDĐT, trường đại học Lao động — Xã hội dự kiến xây dựng lại định mức giờ chuẩn cho cán bộ trên tỉnh thần các giảng viên sẽ phải tăng thời lượng giảng dạy lên gần 100 tiết tuỳ từng nhóm thâm niên công tác cụ thé. Tuy vào chuyên ngành giảng dạy mà định mức cao áp dụng cho các môn khoa học tự nhiên, kỹ thuật cơ sở và ngoại ngữ trong các trường không chuyên ngữ, định mức thấp áp dụng cho các môn khoa học xã hội, chính trị và chuyên ngành, ngoại ngữ trong các trường chuyên ngữ. Nếu cán bộ không làm nghĩa vụ lao động, không luyện tập quân sự, không tham gia nghiên cứu khoa học thì hiệu trưởng sẽ bố trí làm thêm công tác giảng dạy với khối lượng tương đương với thời gian dành cho các công việc trên quy ra giờ chuẩn. Trường hợp cán bộ được biệt phái đến tham gia giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học ở một cơ sở ngoài trường thì khối lượng công tác cần đảm nhiệm ở trường (giảng dạy, nghiên cứu khoa học, lao động nghĩa vụ, 15 luyện tập quân sự) được tính theo thời gian làm việc còn lại trong 46 tuần lễ của năm học.
Với quy định về chế độ công tác của giảng viên như trên chắc chắn có ảnh hưởng tới qũy thời gian và khả năng nghiên cứu khoa học của giảng viên. Đây cũng là vấn đề cần xem xét khi tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hạn chế việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu của giảng viên vào thực tiễn. Khái niệm kết quả nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế g101; hoặc là sáng tao phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới dé làm biến đôi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người. Kết quả nghiên cứu khoa học là những sản phẩm thu được sau một quá trình nghiên cứu.
Đó có thé là một bài báo khoa học, một bdo cáo khoa học, một sản phẩm mẫu thu được sau quá trình thực nghiệm, cũng có thể là một mô hình tổ chức và quản lý, mô hình phương pháp giảng dạy hoặc một giải pháp xã hội nào đó [16;tr. Nói cách khác, kết quả nghiên cứu khoa học là những thông tin — tri thức. Có thể đó là tri thức mới về các quy luật của sự vật hoặc hiện tượng: có thé đó là tri thức mới về các giải pháp mới, công nghệ mới hoặc vật liệu mới, vv. Có nhiều cách phân loại khoa học, ở đây chúng tôi đề cập đến cách phân loại nghiên cứu khoa học theo tinh chất của sản phẩm nghiên cứu.
Theo đó, nghiên cứu khoa học có ba hình thức cơ bản là: Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai. Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thai của các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật va mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác. Sản phâm của nghiên cứu cơ bản có thê dan đên việc hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát, có khả năng ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật, tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống.
Tuy nhiên, dé các kết quả của nghiên cứu ứng dụng có thể ứng dụng được vào thực tế thì cần có hoạt động triển khai. Triển khai là sự vận dụng các quy luật thu được từ nghiên cứu cơ bản và các nguyên lý thu được từ nghiên cứu ứng dụng dé đưa ra các hình mẫu và quy trình sản xuất với những tham số kha thi về kỹ thuật.