CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE CÁC GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH BAO VE BO SONG 1. Tổng quan về công trình bảo vệ bờ sông 1. Một số đặc điểm chung Là công trình nằm ở ven sông, nơi thường có địa chất nền yếu, chịu tác động của mực nước va dòng chảy sông, thay đôi theo mùa và theo thời gian. Công trình bảo vệ bờ sông được xây dựng, củng có, duy tu, bảo dưỡng qua các thời kỳ lịch sử.
Chịu nhiều yếu tố tác động của tự nhiên mang yếu tố ngẫu nhiên, bất định, chịu các các tác động bat lợi do con người gây ra như: khai thác vàng, khai thác cát, tác động của sóng do tàu thuyền đi lại trên sông. Dé điều phòng chống lũ Đê có nhiệm vụ ngăn nước lũ lụt vào mùa mưa, ngăn triều cường đối với các vùng cửa sông ven biển, bảo vệ khu dân cư. Theo vành đai các tuyến bảo vệ, đê được phân ra làm hai loại. Dé chính là tuyến đê bảo vệ vùng dân sinh kinh tế quan trọng, loại đê này không cho phép nước tràn qua đỉnh đê.
Dé bối là tuyến đê nằm bên ngoài đê chính nhằm bảo vệ và tận dụng khai thác các bãi bồi, loại đê này cho phép nước tràn qua đỉnh, mức độ bảo vệ thấp hơn đê chính. Ké và công trình bảo vệ bờ Kè có nhiệm vụ bảo vệ mái đê, mái dốc bờ sông, ôn định đường bờ, bảo vệ bãi trước đê, có nhiều hình thức kè với kết cau đa dạng, phong phú. Theo hình thức kết cấu và vật liệu xây dựng, kè bảo vệ mái đốc có nhiều loại khác nhau. Mỗi loại đều có ba phần chính, đó là chân kè, thân kẻ và đỉnh kè.
Chân kè làm nhiệm vụ bảo vệ chống xói ở chân mái dốc, thân kè bảo vệ phan mái dốc từ chân đến đỉnh kè, đỉnh kè là phần bảo vệ đỉnh của mái dốc. Từng bộ phận phải đảm bảo điều kiện làm việc ôn định trong quá trình chịu tác dụng của các tải trọng từ phía sông hoặc phía đất thân đê hoặc bờ. Ke bảo vệ mái đốc sử dụng các kế cấu từ đơn giản như trồng có đến phức tạp như bê tông lắp ghép tự chèn. Các hình thức thông dụng như đá đỗ, đá xếp.
khan, khối bê tông ghép ri, lin kết tự chèn tạo thành mang 1. Tình hình xây dựng đê kè ở Việt Nam HG thống để, kẻ ở nước là công trình dit vĩ đại. được xây đựng từ hàng ngàn năm nay bing sức lao động của nhân dân qua nhiều thời đại. Để chủ yếu là để đất, vật liệu lấy tại chỗ và do người dân địa phương tự dip bằng những phương pháp thủ công.
Hệ thống đẻ, kẻ biển hình thành là kết quả của quá trinh đấu tranh với thiên nhiên. mở đắt của các thể hệ ng roi Việt Nam đi trước. Con dé đầu tiên được dip từ thời Hai Bà Trưng, thể kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Đến đầu thé kỷ 11, Nhà Lý đã đắp để bảo vệ Kinh thành Đại La (Thăng Long- Hà Nội ngày ngay) để bảo vệ dân cư và sin xuất, Đến thé ky 13, thời Nhà Trần, cuộc đấp dé đã đạt được thành tựu lớn, để ng Hồng đã nỗi dài từ Việt Tara “Trải qua nhiều thời kỳ, cho đến may, hệ thống đề vẫn tổn tại và giữ vũng.
Hệ thống để vẫn là chiến lũy trên trận tuyển ngăn lũ, chống lụt bảo vệ ính mạng, ài sản của cải của nhân dân các vùng đồng bằng. Theo thống ké năm 1986 cả nước có. 5716 km để sông và 2048 km để biển. Hiện nay, trên cả nước có khoảng 8400 km 8, trong đỏ có 6000 km dé sông và 2400 km để biển.
Công tác xây dựng đê điều ở tỉnh Nghệ An qua các giai đoạn Giai đoạn trước cách mạng thing8 năm 1945 Để điều của Nghệ An đã được hinh thành từ rất sớm, các công trình để điều được xây dụng nhiễu bắt đầu ừ năm 1928. Tuyến đề Tả Lam đoạn từ Nam Dan đến Bến Thuỷ được xi dưng từ năm 1928. Cúc công tình để điều đã được xây dưng không đồng bộ, không mang tính thông nhất, tính bệ thing mà chỉ được xây dựng phục vụ cho việc phòng chống lụt bão cho một vùng, một địa phương. Quy mô, kích thước của công tình dé điều ngày cing được nâng cắp theo yên cầu của công tác phòng chống lũ lụt, đời sống nhân dan, Chat lượng các công trình không dim bảo do việc dip dé được tiến hành bằng thủ công.
Tuyển dé được chú ý và quan tâm đầu tư nhất là tuyến đê 42 từ Nam Đàn đến Bến Thuỷ, dưới tuyển dé này có rất nhiều cổng tiêu, khoảng từ 300m đến 2000m có một cổng tiêu. Tuyển để ngày cing được nâng cấp, tôn cao, mổ rộng và theoyêu c tiêu sing cho từng ving thay dBi nên các cổng dưới đẽ ngày cảng tvề số lượng Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 Thiệt hai do lụt bão gây ra: Trong thời kỳ này lụt, bão đã gây ra nhiều thi hai về tính mang và tài sản trên địa bàn tinh Nghệ An, đã có 7 cơn bão và 13 trận lũ Đặc iệtlà trận lũ năm 1954 đã gây nhiều thiệt hại sin, cơ ở hạ ng cho nhân dan trong tinh, Khối lượng vỡ dé năm 1954: = Để 42: Nam Bain + Hung Nguyễn: 60.766 m3 - Đề Cảm Thái: 690 m3 - Đề Phượng Kỷ: 4.000 m3 = Đề Tring Sơn vỡ hoàn toàn Bang 1. Thigt hai do lĩ lụt gây ra trong giai đoạn từ năm 1945 đền năm 1954 "Thời kỳ từ năm 1945 TT Danh mục Đơn vị tính. «én năm 1954 1 |Sổ cơn bão đỗ bộ vào Nghệ An | cơn | 7 2 |Sdconlatimhon bio dong! | cơn | 3B 3 [be chính bị ve chỗ 162 4 |Số cầu cổng bj trôi cái 215 5 |Người bị chết người 170 6 Người bị thương, người 550 7.
Nhà cửa, kho ting, trường học cá 967 8 [Thu bị đấm. cái 32 “Thời kỳ từ năm 1945 TT Danh mục đến năm 1954 9. Diện tích dit bi ứng nặng hà 63293 10 Diện ích đt bị mắt trắng hà 19.668 “Sự hình thành các tuyến đề và công tác ap dé: Tir năm 1945, các địa phương trong tỉnh đã tiến hành phục hồi, sửa chữa các tuyển để cũ bị hư hỏng và xây dựng nhiều tuyến đê mới: Thực hiện việc dip đê ngăn mặn La Vân (xã Nghĩ Yên huyện Nghỉ Lộc với khối lượng 40,000m", năm 1948 dip để con Chach tên đê 42 ở xã Hưng Long, Hưng Khánh huyện Hưng, Nguyên phục vụ cho công tác hộ đê; năm 1949 đã cũng cố đề Chính Môn, đắp đẻ ngăn mặn Phú Lương, đắp đê ngăn mặn La Nham, đắp dé Quỳnh Tân, Quỳnh Yên, cũng cổ đề Quỳnh Phương huyện Quỳnh Lưu; 1950 lâm mới một cổng 2 cửa bằng gỗ ở để xã Tân Sơn. Năm 1951 chi tiêu đắp để do dân công các huyện làm tự tú huyện Anh Sơn 1.100m3, huyện Yên Thành 8 700m3, huyện Diễn Châu 2.
Kết quả: Đắp để 42 đến hét năm 1954 là: 278. Sau độ tiế tục dp các đề Cảm Thai, Đồng Văn, Nam Tring, Chợ Trầm Bến Thủy, Hưng Phong. Số người dip 8.581 người rên tuyển đài 60 km, khối lượng 354.836 mã đắt Xay kè Nam Trung, Cảm Thái, Chợ Vực, ết quả đá xây lát 10. Xây cổng Văn Viên, Mỹ Dy, Hưng Hòa, Hưng Lợi và nối công Đồng Văn với 386 m3 bê tông vượt mức 115% kế hoạch - Theo báo cáo của Trưởng ty Công.
chánh Nghệ An đến ngiy 3/10/1954 đã hoàn tình toàn bộ khối lượng trên Ước tinh theo thống kê chưa diy đủ khối lượng xây dựng công trình đ điền từ năm 1945 đến 1954 Đất 854.102 m3 Bê tông 386 m3 xử lý 20 chỗ vỡ của dé 42: Trận lũ năm 1954 đã gây vỡ 20 đoạn thuộc 4842, các vị tí vỡ lớn là đoạn đề thuộc khu vục đền Vua Lê xã Hưng Khánh. chợ Liễu xã Hưng Linh, đoạn dé thuộc xã Hưng Xuân, xã Hưng Lam huyện Hưng Neuyén và đoạn dé Bầu Sen huyện Nam Bin, Để xử lý, hàn gắn các đoạn để đã bị vỡ thuộc dé 42, nhân dân tỉnh Nghệ An nhất là nhân dân ving Hưng Nguyên, Nam Dàn, Thành phố Vinh đã huy động sức người, sức của để thực hiện việc dip để “Chính quyển tinh Nghệ An đã tranh thủ sự ủng hộ của nhà nước, sự đóng góp công sức của Bộ đội Miễn Nam tập kết ra Bắc (theo hiệp định Genever). Hậu quả do vỡ. đê 42 gây ra đã dé lại hết sức nặng nề cho nhân dân trong vùng chịu ảnh hưởng trực.
tiếp của trận lũ. Nước lũ đã cuốn đi tài sản, nhà của, cơ sử hạ ding, nhân dân phải iu đối, chịu rét. ĐỂ khắc phục nhanh chóng hậu quả của trận lũ này, tinh Nghệ An 4a tiến hành thực hiện công tác cửu đổi, trợ giúp thuốc men, lương thực, quần áo Bộ đội tip kết từ Miễn Nam ra, đã giúp đỡ nhân dân dựng li nhà cứu, chữa bệnh, vệ sinh môi trường. để nhân dân sớm én định đời sống.
Các vị trí vỡ đê đã được đắp lạ, có chỗ vỡ như đoạn để thuộc khu vực đền Vua Lê xã Hung Khánh, do tuyển để cũ bị vỡ, tuyển để mới phái dịch chuyén về phía đồng và đã để lên cổng Tam Quan của Đền (hiện nay dang còn đồ), Giai đoạn sau hoà bình lặp lại từ năm 1955 đến năm 1965 Sau hoà bình lập lại ở miễn Bắc, đất nước ta bắt đầu thực hiện nhiệm vụ xây dạng chủ nghĩa xã hội ở miễn Bắc, là hậu phương lớn cho miễn Nam. Miễn Bắc thực hiện kế hoạch 3 năm (1958 đến 1960) và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 1965), nhằm phát trién kinh tế, cái thiện đời sng nhân dân, đông góp sức sức của để giải phóng miễn Nam thống nhất TS Quốc. Trong khi thực hiện êm vụ kế hoạch 3 năm và kế hoạch 5 năm thì công tác đê điều và phòng chống lụt bão đã có sự quan tâm đặc biệt. Chủ trương của nhà nước là "thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu trong nông nghiệp” và công tác xây dựng và bảo vệ dé điu là phái ngăn lũ, chồng ngập mặn được chú trọng đặc biệt Công tác đắp dé được tiền hành theo tiêu chuẩn: Để Ta Lam (đoạn từ Nam Đàn đến Rao Đừng, Nghỉ Lộc): Chống được mức nước lũ năm 1954, cao trình đỉnh dé bằng mức nước lũ năm 1954 cộng thêm từ 1.