ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Bệnh lý dạ dày -tá tràng, bao gồm viêm dạ dày-tá tràng, loét dạ dày-tá tràng, ung thƣ dạ dày, ung thƣ tá tràng, là một trong những vấn đề sức khỏe của xã hội hiện đại. Viêm loét dạ dày là một bệnh thƣờng gặp ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới. Tỉ lệ viêm dạ dày nói chung từ 50%-60% trong các bệnh lý dạ dày, tá tràng [25]. Viêm dạ dày mãn tính là một bệnh tiến triển tiềm tàng cùng với tuổi của bệnh nhân.
Theo một nghiên cứu ở Phần Lan, có tới 80% những ngƣời trên 50 tuổi bị viêm dạ dày mãn tính ở các mức độ khác nhau và khoảng 50% có viêm teo dạ dày. Với những ngƣời trên 65 tuổi, tỉ lệ viêm teo nặng thân dạ dày là 6% [28]. Ở Việt Nam, các tác giả cũng cho thấy viêm dạ dày mãn tính chiếm tỉ lệ cao nhất tới 51% ở lứa tuổi 30-49 tuổi [8]. Nguy cơ ung thƣ dạ dày ở những đối tƣợng có viêm teo nặng vùng thân vị cao hơn 5 lần so với những ngƣời cùng tuổi trong cộng đồng, Khoảng 10% những ngƣời này sẽ tiến triển thành ung thƣ dạ dày trong vòng 10 năm sau.
Nguy cơ ung thƣ dạ dày còn cao hơn ở những trƣờng hợp viêm teo nặng hang vị và cao nhất ở viêm teo nặng toàn bộ dạ dày. Những nghiên cứu dịch tễ học ở Nhật Bản cũng cho thấy tiêm teo hang vị có liên quan đến sự phát triển của ung thƣ biểu mô dạ dày.1 Các dấu hiệu viêm loét dạ dày ban đầu Vi khuẩn Helicobacter pylori là một trong những tác nhân ảnh hƣởng mạnh mẽ đến quá trình viêm loét dạ dày. Theo thống kê mới nhất của Viện tiêu hóa Việt Nam, Trang1 có tới 70% ngƣời trƣởng thành nhiễm vi khuẩn này. Vi khuẩn Helicobacter pylori là dạng xoắn khuẩn hình chữ S, sau khi xâm nhập vào cơ thể, chúng chui vào lớp nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày.
Tại lớp nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày, chúng tiết ra một số chất làm kích thích dạ dày tiết acid nhiều hơn nên lƣợng acid dƣ thừa lớn là yếu tố dẫn tới viêm loét dạ dày. Không chỉ vậy, vi khuẩn Helicobacter pylori còn làm suy yếu lớp chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày bằng cách tiết ra độc tố làm tổn thƣơng các tế bào nằm dƣới lớp chất nhầy. Do vậy, những tế bào bị tổn thƣơng này càng dễ dàng bị acid dƣ thừa phá hủy, lâu ngày dẫn tới viêm loét dạ dày. pylori là một trong những nhiễm khuẩn mạn tính thƣờng gặp nhất ở ngƣời.
Đƣờng lây nhiễm chủ yếu là đƣờng ăn uống (phân- miệng) hoặc lây trực tiếp (miệng-miệng) qua nƣớc bọt. Ở nững nơi có điều kiện vệ sinh kém, nguồn lây lan quan trọng là nƣớc và thức ăn bị nhiễm khuẩn [1]. Một số nghiên cứu trong nƣớc cho biết tỉ lệ nhiễm H. pylori ở Việt Nam khoảng 60-70%, thuộc vùng có tỉ lệ nhiễm H.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy viêm dạ dày mãn tính chiếm tỉ lệ 51% ở lứa tuổi từ 30-49 tuổi [4], [7], [12]. Đi sâu nghiên cứu về mặt sinh học phân tử của H. pylori , nhiều tác giả đã phát hiện rằng những chủng H. pylori mang gene cagA(+) (cytotoxin associated gene A) gây độc tế bào, thƣờng chiếm tỉ lệ rất cao trong các thể bệnh nặng nhƣ loét dạ dày tá tràng, viêm teo, dị sản ruột, loạn sản, ung thƣ dạ dày.
pylori có cả gene cag A(+) và gene vacA(+) (vacuolatinh cytotoxin gene A), gene gây rỗng tế bào, thì khả năng gây bệnh càng cao hơn. Những chủng có biểu hiện đồng thời của cả CagA và VacA có vai trò gây bệnh rõ rệt, những chủng này đƣợc gọi là chủng độc [5]. Hiện nay trong điều trị viêm loét dạ dày-tá tràng, ngoài sử dụng thuốc kháng tiết, ngƣời ta còn dùng kháng sinh để tiêu diệt căn nguyên vi khuẩn H. pylori , thƣờng dùng 2 loại kháng sinh phối hợp nhƣ Metronidazol hoặc Tinidazol với Amoxicilline hoặc Clarithromycin thì hiệu quả tác dụng tốt hơn là dùng một loại [3], [4], [8].
Thực tế điều trị cho thấy vi khuẩn H. pylori , cũng nhƣ các loại vi khuẩn khác , sau một thời gian nhạy cảm với kháng sinh, đã có tình trạng kháng thuốc. pylori có khả năng kháng rất nhanh với những thuốc kháng sinh đƣa vào điều trị, ở cả in vivo và invitro. Do vậy, tình trạng kháng thuốc của H.
pylori đang là vấn đề rất đƣợc quan tâm. pylori có khả năng kháng thuốc nhanh chóng nên việc điều trị cần phải tuân theo các phát đồ phối hợp thuốc. Phát đồ đƣợc lựa chọn đầu tiền là phát đồ bộ 3, gồm một thuốc ức chế bơm axit (PPI-proton pump inhibitor) hoặc RBC (ranitidine bismuth citrate), kết hợp với Clarithromycin và Amoxicilin hoặc Metronidazol. Phát đồ thứ hai đƣợc lựa chọn sau đó là phát đồ bộ 4 gồm có thuốc ức chế bơm proton H+ (PPI), Bismuth, Metronidazol và Tetracyclin.
Khi không có Bismuth, phát đồ lựa chọn thứ hai là bộ ba dựa trên PPI. Sự đề kháng kháng sinh là yếu tố chính ảnh hƣởng đến hiệu quả của các phát đồ điều trị hiện dùng. Tỉ lệ lƣu hành của vi khuẩn kháng thuốc thay đổi tùy theo từng khu vực địa lý khác nhau và tƣơng quan với việc sử dụng kháng sinh trong dân số chung. Trên thế giới, cũng nhƣ tại Việt Nam nói chung và khu vực phía Nam nói riêng, hàng năm có nhiều ca viêm loét dạ dày, viêm loét tá tràng điều trị thất bại Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Xây dựng giải pháp toàn diện cho H.
pylori bằng kỹ thuật Real-time PCR” là một yêu cầu vừa mang tính cấp thiết, vừa có ý nghĩa lâu dài, vừa có ý nghĩa về khoa học và thực tiễn, góp phần xây dựng dữ liệu cho việc lựa chọn kháng sinh bƣớc đầu, hạn chế thất bại trong điều trị có thể dẫn đến kháng thuốc thứ phát.2 MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu nghiên cứu Xác định kiểu gene độc tố của vi khuẩn H. Xác định kiểu gene CYP2C19 của ngƣời hỗ trợ cho chuyển hóa PPI. Xác định kiểu gene đột biến của H. pylori kháng kháng sinh Khảo sát mối tƣơng quan giữa kiểu gene kháng kháng sinh và giá trị MIC trên E-test.
Tổng quát các yếu tố liên quan trong việc điều trị bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng do H. pylori kháng kháng sinh.2 Phạm vi nghiên cứu Tất cả các bệnh nhân có viêm loét dạ dày –tá tràng (bao gồm viêm, loét dạ dày, tá tràng hoặc viêm loét hỗn hợp) đƣợc điều trị H. pylori lần đầu hay lần sau và kháng thuốc gởi đến công ty Nam Khoa từ 7-2014 đến 12-2015.3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tính thực tiễn của đề tài Hơn 60-70% dân số Việt Nam có nguy cơ bị viêm loét dạ dày và 30-40% trong số đó có nguy cơ chuyển sang ung thƣ dạ dày. Vì vậy, vấn đề điều trị triệt để H.
pylori , xóa sạch viêm loét dạ dày là vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết.2 Tính khoa học và tính mới của đề tài Đã có rất nhiều phát đồ điều trị đƣợc đƣa ra, tuy nhiên đại bộ phận bênh nhân nhiễm khuẩn H. pylori sau một thời gian điều trị dẫn đến kháng thuốc. Và những phát đồ điều trị khi ấy không còn hiệu quả nửa. Vấn đề cấp thiết đƣợc đặt ra là nhanh chóng tìm đƣợc cơ chế kháng thuốc cũng nhƣ những đôt biến gene kháng thuốc của H.Do đó, cần một giải pháp vừa đảm bảo độ nhạy, độ đặc hiệu và nhất là thời gian phát hiện sớm, để kịp thời điều trị sau lần thất bại đầu tiên.
Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về kiểu hình kháng thuốc dựa trên thử nghiệm MIC, tuy nhiên chƣa thực sự có công trình nghiên cứu nào về kiểu gene kháng thuốc. Vì vậy, đây là một đề tài hoàn toàn có ý nghĩa về khoa học và tính mới, tính sáng tạo trong nghiên cứu. Trang4 CHƢƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY VÀ UNG THƢ DẠ DÀY 2.1 Bệnh viêm loét dạ dày và nguy cơ ung thƣ dạ dày Loét dạ dày – tá tràng là tình trạng có sự hiện diện của tổn thƣơng loét trên niêm mạc dạ dày hoặc tá tràng.Các thuật ngữ thƣờng dùng của viêm loét dạ dày- tá tràng trong tiếng Anh: Duodenal ulcer (loét tá tràng) Gastric ulcer (loét dạ dày) Stomach ulcer (loét dạ dày) Peptic ulcer (loét dạ dày – tá tràng). Loét dạ dày – tá tràng xảy ra khi có sự mất quân bình giữa 2 lực đối kháng tác động lên niêm mạc dạ dày – tá tràng : 1.
Lực tấn công: làm phá huỷ niêm mạc dạ dày- tá tràng mà tiêu biểu là Hcl và pepsin của dịch dạ dày. Lực bảo vệ: đảm bảo sự nguyên vẹn của thành dạ dày- tá tràng là nhờ vào hàng rào nhầy và lớp tế bào niêm mạc dạ dày – tá tràng. Theo quan niệm này, bất cứ một tác nhân nào làm gia tăng lực tấn công, hoặc làm giảm lực bảo vệ đều có thể gây ra bệnh loét dạ dày – tá tràng.Pylori S Thuốc lá Tăng tiết acid , pepsin TỔN THƯƠNG HÀNG RÀO NHẦY Hình 2.1 Các nguyên nhân gây loét dạ dày – tá tràng Trong số các tác nhân gây bệnh nêu trên, Helicobacter pylori là nguyên nhân quan trọng nhất. Các thuốc NSAID, Steroides có thể gây loét ở ngƣời phải điều trị dài Trang5 ngày với các thuốc này.
Các Stress về tâm lý thần kinh cũng có thể gây loét, thuốc lá làm tăng nguy cơ loét, tăng tỷ lệ tái phát và biến chứng của bệnh loét dạ dày – tá tràng. Rƣợu cũng làm tăng tỷ lệ tái phát bệnh. Viêm loét dạ dày là bệnh phổ biến hàng đầu trong các bệnh đƣờng tiêu hóa, bệnh xuất hiện ở nhiều quốc gia và ở mọi lứa tuổi. Nếu không đƣợc điều trị sớm và đúng cách bệnh có thể gây ung thƣ dạ dày.
Ở Việt Nam, áp lực trong cuộc sống và chế độ ăn uống chƣa hợp lý khiến tỉ lệ mắc bệnh ngày càng tăng. Viêm loét dạ dày - tá tràng là đang là 1 bệnh khá phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam. Đặc biệt ở các nƣớc đang phát triển, tỷ lệ ngƣời bệnh ƣớc tính khoảng 10%, hàng năm tăng khoảng 0,2%. Ở Việt Nam, theo điều tra trong những năm gần đây, bệnh chiếm khoảng 26% và thƣờng đứng đầu trong các bệnh ở đƣờng tiêu hóa và có chiều hƣớng ngày càng gia tăng.
Theo Hội Khoa học Tiêu hóa Việt Nam, 70% ngƣời Việt có nguy cơ bị đau dạ dày. Viêm dạ dày do nhiễm H. pylori diễn biến qua 2 giai đoạn. + Giai đoạn cấp tính: Quá trình nhiễm H.
pylori có thể chia làm hai giai đoạn.