Đặt vấn đề Viêm phổi là bệnh do vi khuẩn gây ra, trong đó có 3 loại vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae (A. pleuropneumoniae), Pasteurella multocida (P. multocida) và Streptococcus suis (S. Bệnh viêm phổi gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi trang trại ở nước ta và nhiều nước trên thế giới.
Khi mắc bệnh lợn dễ chết với tỷ lệ cao, nếu không được điều trị kịp thời. Nếu lợn bị mắc bệnh tai xanh thì vi khuẩn gây viêm phổi kế phát sẽ làm bệnh trở nên rất nặng và lợn thường chết do viêm phổi kế phát. Tỉnh Tuyên Quang có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển. Chăn nuôi lợn đã góp phần xóa đói giảm nghèo và góp phần làm giàu cho bà con nông dân trong tỉnh.
Tuy nhiên, bệnh viêm phổi thấy ở nhiều lợn, trong đó có nhiều lợn bị chết, gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi. Để có biện pháp phòng trị bệnh viêm phổi cho lợn hiệu quả, việc xác định vi khuẩn gây viêm phổi và phác đồ điều trị có hiệu lực cao là vấn đề cần thiết. Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi ở huyện Sơn Dƣơng và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn ”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu về 3 loại vi khuẩn gây viêm phổi và biện pháp điều trị viêm phổi, từ đó góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở tỉnh Tuyên Quang.
Mục tiêu nghiên cứu - Nuôi cấy, phân lập 3 loại vi khuẩn A. suis gây viêm phổi ở lợn tại huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. 2 - Giám định một số đặc tính sinh vật hóa học của 3 loại vi khuẩn trên. - Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm phổi cho lợn.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả đề tài là những thông tin khoa học hoàn thiện thêm về vai trò gây bệnh của 3 loại vi khuẩn (A. suis) trong bệnh viêm phổi ở lợn. Từ đó có cơ sở đề xuất biện pháp phòng chống bệnh viêm phổi cho lợn hiệu quả.
Ý nghĩa thực tiễn Đề tài giúp các địa phương thuộc huyện Sơn Dương và Yên Sơn hạn chế thiệt hại do bệnh viêm phổi gây ra, từ đó hạn chế tỷ lệ lợn chết, góp phần phát triển chăn nuôi lợn. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 2. Những hiểu biết về vi khuẩn A.
pleuropneumoniae Hình thái, kích thƣớc và đặc tính nuôi cấy Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae thuộc họ Pasteurellae, thuộc giống Actinobacillus, được xác định là nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi truyền nhiễm ở lợn. pleuropneumoniae có dạng cầu trực khuẩn nhỏ, bắt màu gram âm, kích thước khoảng 0,3 - 0,5 x 0,6 - 1,4 µm. Vi khuẩn không di động, không sinh nha bào, có khả năng hình thành giáp mô, tuy nhiên một số chủng không có giáp mô cũng đã được quan sát thấy. Dưới kính hiển vi điện tử phát hiện vi khuẩn có nhung mao với kích thước 0,5 - 2 x 60 - 450 nm.
Loại có vỏ (capsule) là polysaccharide được tìm thấy ở hầu hết các serotype của vi khuẩn A. pleuropneumoniae, còn loại không có vỏ thì ít tìm thấy hơn (Perry và cs, 1990) [35]. pleuropneumoniae là một loại vi khuẩn khó phân lập trên các môi trường thông thường và thường phụ thuộc vào yếu tố V. Do vậy, khi nuôi cấy A.
pleuropneumoniae cần các môi trường giàu dinh dưỡng. Vi khuẩn không phát triển trên môi trường thạch máu thông thường mà chỉ có thể mọc trên thạch máu đã được bổ sung NAD hoặc có cấy kèm vi khuẩn Sta. Sau 24 giờ nuôi cấy, vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc mọc xung quanh đường cấy Sta. aureus với kích thước 0,5 - 1 mm và hình thành một vùng dung huyết β.
Vùng dung huyết này thường được quan sát rõ hơn trên môi trường thạch có bổ sung 5 - 7% máu cừu. Ngoài ra, vi khuẩn A. pleuropneumoniae còn gây một vùng dung huyết tăng cường trong vùng dung huyết bán phần, xung quanh đường cấy Sta. aureus có độc tố dung huyết β gọi là hiện tượng CAMP.
4 Trên môi trường TSA: Trong thành phần của môi trường này được bổ sung Yearst Extract (YE) và huyết thanh ngựa. Sau 24 - 48 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo thành khuẩn lạc nhỏ, màu trắng trong, dưới ánh sáng đèn điện có màu xám xanh. Trên môi trường thạch chocolate: Sau 24 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo thành khuẩn lạc nhầy, màu trắng xám. pleuropneumoniae thuộc biotype 1 có thể phân biệt được với H.
parasuis bởi khả năng gây dung huyết trên thạch máu khi có Sta. aureus cấy kèm (Kilian và cs, 1978) [29]. Đặc tính sinh hóa Vi khuẩn A. pleuropneumoniae lên men đường glucose, xylose, mannitol, mannose và không lên men đường arabinose, lactose, raffinose, sorbitol.
Dương tính với phản ứng urease, oxidase, CAMP, O.G; âm tính với phản ứng sinh indol và không mọc trên thạch MacConkey. Cấu trúc kháng nguyên Vi khuẩn A. pleuropneumoniae từ lâu đã được nhiều nghiên cứu xác định là nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn và được chia thành 2 biotype chính dựa trên nhu cầu cần sử dụng NAD (Nicotinamide Adenine Dinucleotide) hay còn gọi là yếu tố V cho quá trình sinh trưởng của vi khuẩn. Biotype 1 cần có NAD, còn biotype 2 thì không đòi hỏi có NAD trong quá trình nuôi cấy.
Biotype 1 có độc lực cao hơn biotype 2. Biotype 1 có 12 serotype khác nhau dựa trên sự khác nhau của capsule polysaccharide (CPS) và của lipopolysaccharide (LPS) thành tế bào (Perry và cs, 1990) [35]. Ở biotype 2 có serotype 2, 4, 7 và 9 có chung nhóm quyết định kháng nguyên như biotype 1. Trong những năm gần đây, serotype 13 và 14 thuộc biotype 2 được phát hiện và được mô tả có kháng nguyên khác với biotype 1.
Blackall và cs (2002) [23] đã phát hiện ra serotype 15 thuộc biotype 1 ở 9 chủng vi khuẩn phân lập được tại Australia. 5 Các yếu tố độc lực Nhiều nghiên cứu đã cho thấy độc lực ở các serotype khác nhau của vi khuẩn A. pleuropneumoniae phần lớn được quyết định bởi các ngoại độc tố mà chúng sản sinh ra. Polysaccharide vỏ, lipopolysaccharide, protein màng, protein thu nhận sắt, yếu tố bám dính, ngoại độc tố và một vài loại enzym có liên quan cũng đóng vai trò quan trọng đối với độc lực của vi khuẩn A.
Hiểu biết về thành phần và cấu trúc kháng nguyên chủ yếu liên quan đến độc tính, độc lực của vi khuẩn sẽ cung cấp các thông tin quan trọng, là cơ sở khoa học cho việc phát triển kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh đặc hiệu cũng như chế tạo vắc xin phòng bệnh. - Các yếu tố độc lực khác: Ngoài các yếu tố độc lực chính như trên vi khuẩn A. pleuropneumoniae còn có một số thành phần khác cũng có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học, bao gồm: fimbriae, ngưng kết tố, hlyX protein, protease, enzym superoxide dismutase (SOD), urease. Khả năng đề kháng với kháng sinh Việc sử dụng kháng sinh không cần thiết làm cho A.
pleuropneumoniae kháng lại nhiều loại kháng sinh. Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn A. pleuropneumoniae được quyết định bởi thành phần plasmid có trong tế bào vi khuẩn và plasmid này có trọng lượng phân tử thấp (2,3 - 3,6) x106 dalton. Cơ sở của hiện tượng kháng này với ampicillin là do vi khuẩn tiết ra men β- lactamase.
Những plasmid này không có vật liệu gen để thúc đẩy sự dẫn truyền tới vi khuẩn khác và sự xuất hiện của plasmid này gợi ý về kết quả của một quá trình chọn lọc của vi khuẩn A. Đặc tính kháng kháng sinh có khả năng truyền bằng plasmid. Ở Việt Nam, sự mẫn cảm với kháng sinh của A. pleuropneumoniae cũng được Cù Hữu Phú và cs (2005) [13] cho biết ít mẫn cảm nhất là kanamycin (45,45%), neomycin (50%), lincomycin (63,64%).
Nguyễn Thị Thu Hằng (2010) [4] khi nghiên cứu khả năng kháng kháng sinh của các các 6 chủng A. pleuropneumoniae phân lập được ở lợn thuộc các tỉnh miền Bắc đã cho thấy các chủng A. pleuropneumoniae phân lập được mẫn cảm nhất với kháng sinh ceftriaxone, chiếm tỷ lệ 73,01%; tiếp theo là các kháng sinh ampicillin, amoxicillin, ceftazidine lần lượt là 63,49%; 58,73% và 55,56%. Một số kháng sinh đang được sử dụng nhiều có tỷ lệ kháng thuốc khá cao như lincomycin bị kháng tới 93,65%, tiếp đến là erythromycin, neomycin và gentamicin 85,71%; 80,95% và 49,21%.
Như vậy, khả năng kháng thuốc của vi khuẩn A. pleuropneumoniae khá phổ biến, có xu hướng tăng lên về tỷ lệ và chủng loại thuốc bị kháng. Do đó cần có biện pháp sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi và thú y hợp lý nhằm hạn chế khả năng kháng thuốc của A. multocida Hình thái, kích thƣớc và đặc tính nuôi cấy Vi khuẩn P.
multocida thuộc bộ Eubacteriales, họ Parvobateriaceae, tộc Pasteurelliae, giống Pasteurella, loài Pasteurella multocida. multocida gây bệnh ở lợn là loại cầu trực khuẩn, bắt màu gram âm, có kích thước 0,2 - 0,41 x 0,04 - 1,5 m, hai đầu tròn, không di động, không sinh nha bào, thường bắt màu sẫm ở hai đầu trong các tiêu bản máu ở phủ tạng lợn còn tươi. multocida là loại vi khuẩn sống hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ tiện, điều kiện thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 37°C trong môi trường trung tính hay hơi kiềm (pH: 7,2 - 7,4). multocida mọc tốt trên một số môi trường như nước thịt, thạch thường, thạch máu… (Cù Hữu Phú, 2005) [13].
Đặc tính sinh hóa Vi khuẩn P. multocida lên men đường glucose, mannitol, sorbitol, galactose; không lên men đường lactose, arabinose, maltose. Phản ứng sinh indol, catalaza và oxydaza: dương tính; phản ứng urease: âm tính; không mọc trên môi trường MacConkey (Đỗ Quốc Tuấn, 2008 [22]). 7 Cấu trúc kháng nguyên Kháng nguyên của vi khuẩn P.
multocida rất phức tạp và cấu trúc từng loại luôn thay đổi. Cho đến nay, người ta đã xác định được P. multocida có 2 loại kháng nguyên là kháng nguyên vỏ (K) và kháng nguyên thân (O). Kháng nguyên O của vi khuẩn P.
multocida được cấu tạo từ gluxit, lipid và protein. Về đặc điểm sinh học, kháng nguyên O có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành miễn dịch. Kháng nguyên K bao quanh thân vi khuẩn giúp cho vi khuẩn chống lại hiện tượng thực bào và ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên thân O và kháng thể O. Kháng nguyên thân O có hai thành phần đặc hiệu và không đặc hiệu, các chủng vi khuẩn khác nhau sẽ khác nhau theo kháng nguyên thân.
Độc lực của vi khuẩn Nhiều nghiên cứu về độc lực của vi khuẩn P. multocida cho thấy ở những gia súc, gia cầm chết do vi khuẩn P.