CHƯƠNG 1 TÍN DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN TỈNH CÀ MAU 1. TÍN DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG. Tín dụng Ngân hàng: Tín dụng ra đời từ khi xã hội có sự phân công lao động và xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Tín dụng tổn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau, nhưng bất kỳ phương thức nào, tín dụng biểu hiện ra ngoài như là sự vay mượn lẫn nhau tạm thời một số tiền tệ.
Bản chất của tín dụng được biểu hiện trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó với quá trình tái sản xuất. Khái niệm tin dung: Qua những lý luận đã trình bày nêu trên, dẫn đến khái niệm:Tín dung là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà hai bên thoả thuận. Quan hệ kinh tế trên được thông qua vận động giá trị vốn tín dụng qua các giai đoạn: Giai đoạn phân phối vốn tín dụng, giai đoạn phân phốt vốn tín dụng, giai đoạn hoàn trả vốn tín dụng. với Như vậy, bản chất của tín dụng là hoàn trả và là cơ sở để phân biệt phạm trù kinh tế khác, là quá trình quay trở về với tư cách là một lượng giá trị vận động, cho nên sự hoàn trả luôn luôn phải đảm bảo giá trị và có phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức.
Trong trường hợp có lạm phát sự hoàn trả về mặt giá trị cũng phẩi được tôn trọng, thông qua cơ chế điểu tiết bằng lãi suất, “ đem tiễn đi vay với tư cách là một vật có đặc điểm là quay trở về với điểm xuất phát của trình nó thì vẫn còn nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn thêm trong quá vận động“[34, quyển 3, tập 2, tr. Các hình thức của tín dụng: Trên thực tế còn tổn tại nhiều hình thức tín dụng khác nhau, có thể chia ra như sau: - Xét theo tính chất pháp lý: Có hai hình thức đó là hình thức tín dụng chính thức và hình thức tín dụng không chính thức. nhận, + Tín dụng chính thức: là các hình thức tín dụng được pháp luật thừa bao gồm: Ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng nước ngoài, N gân hàng tài liên doanh, Ngân hàng cổ phần, Hợp tác xã tín dụng và các tổ chức trung gian chính khác. + Tín dụng không chính thức (Tín dụng ngầm): là hình thức tín dụng không được luật pháp thừa nhận.
- _ Xét theo thời hạn cấp tín dụng: có các loại + Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng từ 12 tháng trở xuống. + Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng từ 1-5 năm. + Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. -_ Xét theo đối tượng tín dụng: gồm có tín dụng vốn lưu động, tín dung vốn cố định.
- Theo mục đích sử dụng vốn: có các loại tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín dụng tiêu dùng. - Căn cứ vào chủ thể quan hệ tín dụng: có các loại như Tín dụng thương mại, Tín dụng ngân hàng, Tín dụng nhà nước. Bản chất tín dụng: Như đã biết, tín dụng (TD) là một phạm trù của KT hàng hóa, là hình thức vận động của vốn cho vay. TD phần ánh quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng vốn nhàn rổi trong nên KT trên nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả vốn gốc lẫn lợi tức.
Qua khái niệm về tín dụng, cho thấy TD là một quan hệ giao dịch, trong - Người cho vay chỉ nhượng lại quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một khoảng thời hạn nhất định ( theo thỏa thuận). - Người đi vay không có quyển sở hữu vốn đó và phải hoàn trả người cho vay khi đến hạn đã thỏa thuận. Sự hoàn trả này không chỉ là sự bảo tổn về mặt giá trỊ, mà còn được tăng thêm dưới hình thức lợi tức. Quá trình vận động mang tính chất hoàn trả là biểu hiện sự khác biệt đặc trưng giữa quan hệ TD với các mối quan hệ KT khác.
Nhìn chung, TD tổn tại và phát triển qua các hình thái KT —- XH khác nhau; và có vận động dưới phương thức nào, đối tượng là tiền hay hiện vật thì TD cũng mang các đặc trưng cơ bản, sau đây: Một là, chỉ thay đổi quyển sử dụng mà không có sự thay đổi về quyền sở hữu vốn. Hai là, có thời hạn và được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa bên cho vay và bên đi vay. Ba là, Người sở hữu vốn TD được nhận một phần thu nhập dưới hình thức lợi tức. Bấn là, Người cho vay có thể cấp tín dụng bằng tiền, hoặc cho thuê các tài sản khác (hiện vật).
Năm là, Sự tín nhiệm trong quan hệ tín dụng là yếu tố quan trọng hàng đầu. Các đảm bảo trong quan hệ tín dụng là có điều kiện. Quan hệ TD tôn tại trong nhiều nên KT hàng hóa. Nhưng tôn tại trong các phương thức sẵn xuất xã hội khác nhau thì TD cũng mang những bản chất khác nhau.
Trong nên KT quá độ lên CNXH, các Ngân hàng thương mại nhà nước khi cho vay tiền, không chỉ đơn thuần vì mục đích thu lợi tức, mà chủ yếu vì sự phát triển mạnh mẽ của nên sản xuất xã hội theo định hướng XHCN, từng bước thỏa ~ ^ ` ` a a mãn nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân. Vai trò của tín dung ngân hàng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tỉnh Cà Mau: 1. Khái niệm, nội dung về cơ cấu kinh tế: a. Khái niệm về cơ cấu kinh tế: Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “Cơ cấu kinh tế”, như: { 16, tr.8-9 ] - Định nghĩa 1: CCKT của nền kinh tế quốc dân một nước là tổng thể các mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố và trong từng yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, với những điều kiện kinh tế ~ xã hội cụ thể trong những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội.
- Định nghĩa 2: CCKT là một tổng thể kinh tế bao gồm nhiều yếu tố, giữa chúng có những liên hệ, những tương tác qua lại về mặt chất lượng lẫn mặt số lượng, trong một khoảng thời gian và trong những điểu kiện kinh tế xã hội cụ thể. Tổng thể kinh tế đó cũng luôn vận động hướng vào những mục tiêu nhất định. - Định nghĩa 3: CCKT của một nước là tổng thể. các quan hệ kinh tế hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế; gắn với vị trí, trình độ công nghệ, quy mô, tỷ trọng tương ứng với từng bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa tất cả các bộ phận; gắn với điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định; nhằm thực biện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được xác định.
Trong các định nghĩa nêu trên, mặc dù giữa chúng không có sự khác nhau cơ bản, song định nghĩa thứ ba có tính khái quát cao hơn và chứa đựng đây đủ nội dụng hơn, nên được nhiều người sử dụng. Từ định nghĩa nêu trên cho thấy CCKT có các đặc trưng, sau đây: se. CCKT mang tính khách quan: Một CCKT hợp lý phải phản ánh sự tác động của các quy luật khách quan, phản ánh sự tương quan giữa các nguồn lực của một quốc gia. CCKT tuy chịu sự tác động của yếu tố chủ quan, như: phân công lao động, kế hoạch hóa, đảm bảo cân đối,.
nhưng không vì thế mà mất đi tính khách quan của nó. © CCKT mang tinh lich sử - xã hội. © CCKT mang tinh bién déi. © CCKT la mét qué trinh xdy dung lau dai.
Nội dung cơ cấu kinh tế: - Xét trên cấp độ nền kinh tế quốc dân (KTQD) hay trên một vùng lãnh thổ: CCKT là một hệ thống đa cơ cấu hợp thành, bao gồm: e_ Cơ cấu ngành của nền KTOQD và nội bộ từng ngành: Cơ cấu ngành kinh tế là một kiểu cơ cấu trong toàn bộ hệ thống các cơ cấu của nền KTQD, xác định theo mối liên hệ giữa các ngành và nội bộ ngành, phân biệt với các loại CCKT khác. Cơ cấu ngành kinh tế là tổng thể các đơn vị kinh tế cùng thực hiện một loạt chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội, nó được phân biệt theo tính chất và đặc điểm của sản phẩm. Cơ cấu ngành kinh tế cần thiết và phải được xác định trong tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. e_ Cơ cấu tái sản xuất xã hội: là một cấu trúc được xem xét trong mối quan hệ tương tác giữa 4 khâu của quá trình sản xuất — phân phối — lưu thông — tiêu dùng.
e© Ngoài ra, còn có: Cơ cấu vùng, lãnh thổ, Cơ cấu thành phân kinh tế, Cơ cấu kỹ thuật và công nghệ. Nén KTQD là một hệ thống phúc tạp, tỉnh tế và năng động; do đó, CCKT của nó cũng mang tính đa cơ cấu. Nội dung CCKT được trình bày phân trên chỉ là những CCKT chủ yếu trong hệ thống cơ cấu KTQD. - Để nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bên vững thì vấn để tối ưu hóa việc xây dựng cơ cấu kinh tế của cả nước, của một địa phương trên vùng lãnh thổ là đòi hỏi khách quan, và là yêu cầu không thể thiếu được của quá trình phát triển kinh tế — xã hội.
Cơ cấu kinh tế nông thôn: Nông thôn Việt Nam nói chung, nông thôn tỉnh Cà Mau nói riêng đang trong tiến trình đổi mới toàn diện; chuyển dịch từ hệ thống tập trung bao cấp, sản xuất tự cung tự cấp, sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHXN. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới toàn diện nên đã tạo động lực rất to lớn đối với đông đảo quần chúng nông dân; khuyến khích, động viên bà con nông dân và các thành phần khác bỏ vốn, sức lao động,. vào sản xuất nông — lâm — ngư - lâm nghiệp; từ đó, đã tạo ra những thành tựu rất to lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần ổn định kinh tế — xã hội, đưa đất nước ta từ chổ thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu lương thực hàng đầu trên thế giới, và là nước có vị trí cao trong lĩnh vực xuất khẩu hàng nông - thủy sản,. 10 Kinh tế nông thôn (KTNT) được hiểu một cách khái quát là nên kinh tế trên địa bàn nông thôn.