Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sau khi thực hiện chính sách cải cách và đổi mới toàn diện nền kinh tế quốc dân, Việt Nam đã đạt được những bước phát triển quan trọng, bảo đảm an ninh lương thực và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân cả nước trong giai đoạn 1991 - 1995 đạt 8,2%/năm, năm 1996 đạt 9,3%, năm 1997 đạt 8,2%, dù có sự sụt giảm vào năm 1998 (5,8%) và 1999 (4,8%) do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực, nhưng đã phục hồi lên mức 6,7% vào năm 2000. Tuy nhiên, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền ngày càng gia tăng, đặc biệt là sự tụt hậu của các tỉnh miền núi so với vùng đồng bằng do dòng vốn đầu tư tập trung chủ yếu vào các đô thị và trung tâm kinh tế lớn.

Bắc Kạn là tỉnh miền núi được tái lập trên cơ sở tách ra từ tỉnh Bắc Thái và Cao Bằng. Do xuất phát điểm kinh tế - xã hội rất thấp, quy mô sản xuất nhỏ bé và cơ sở hạ tầng thiếu thốn, tỉnh phải đối mặt với yêu cầu cấp thiết về việc xác định đường lối, phương hướng phát triển kinh tế phù hợp với đặc thù địa phương.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Văn Khởi (lớp QLKT 39B, Khoa Quản lý Kinh tế) với đề tài "Một số phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế tỉnh Bắc Kạn từ nay đến năm 2010" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và các quan điểm khoa học về tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế bền vững, các đại lượng đo lường và các mô hình kinh tế tiêu biểu.
  2. Khảo sát, thu thập số liệu và đánh giá thực trạng tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành, thu chi ngân sách và tình hình sản xuất các ngành nông - lâm nghiệp, công nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại - dịch vụ tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1997 - 2000.
  3. Phân tích các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và tiềm năng phát triển của tỉnh Bắc Kạn.
  4. Đề xuất các phương hướng và hệ thống giải pháp kinh tế - xã hội thiết thực nhằm hỗ trợ tỉnh đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 7,2% theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế và các nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
  • Phạm vi không gian: Tỉnh Bắc Kạn (bao gồm 6 huyện: Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Mới, Na Rỳ, Ngân Sơn và thị xã Bắc Kạn).
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá dữ liệu thực trạng giai đoạn 1997 - 2000 và định hướng giải pháp phát triển đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống lý thuyết kinh tế học phát triển toàn diện, làm căn cứ luận giải cho việc phân tích thực trạng kinh tế địa phương:

1. Khung lý thuyết và khái niệm kinh tế

  • Tăng trưởng kinh tế: Biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở rộng quy mô về mặt số lượng của các yếu tố trong nền kinh tế qua một thời kỳ nhất định nhưng giữ nguyên cơ cấu và chất lượng. Biểu thị qua mức tăng tuyệt đối ($\Delta Y = Y_1 - Y_0$) và mức tăng tương đối ($y = Y_1 / Y_0$).
  • Phát triển kinh tế: Sự biến đổi tích cực dựa trên cả số lượng, chất lượng và cơ cấu kinh tế; bao hàm sự vượt trội về tiến bộ khoa học công nghệ, năng suất lao động xã hội và cơ cấu kinh tế hợp lý.
  • Phát triển bền vững: Trích dẫn định nghĩa của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển, nhấn mạnh phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, bảo đảm 3 yêu cầu: phát triển liên tục, tốc độ cao và bảo vệ tài nguyên sinh thái.
  • Các quan điểm phát triển: Phân tích 3 trường phái tư duy gồm quan niệm nhấn mạnh tăng trưởng (tập trung tăng thu nhập làm đầu tàu nhưng dễ gây bất bình đẳng và cạn kiệt tài nguyên), quan điểm nhấn mạnh bình đẳng xã hội (dễ dẫn đến phân phối dàn trải, triệt tiêu động lực) và quan điểm phát triển toàn diện (kết hợp hài hòa giữa số lượng tăng trưởng và chất lượng xã hội).
  • Hệ thống thước đo tăng trưởng: GDP (tiếp cận theo 3 phương diện: sản xuất $GDP = GO - IC$, tiêu dùng $GDP = C + I + G + X - M$, thu nhập $GDP = C_p + I_p + T$), GNP ($GNP = GDP + \text{Thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài}$), NNP ($NNP = GNP - D_p$), NDI ($NDI = NNP - (T_i + T_d) + S_d$) và thu nhập bình quân đầu người.
  • Hệ thống chỉ số kinh tế - xã hội: Tuổi thọ bình quân, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, mức cung cấp calo/người/ngày, tỷ lệ người biết chữ, mạng lưới y tế - giáo dục, đường cong Lorenz và hệ số Gini ($Gini = A/B$, chạy từ 0 đến 1; phân tích dải biến thiên thực tế 0,2 - 0,6 theo Ngân hàng Thế giới).
  • Hàm sản xuất và mô hình kinh tế: Khảo sát hàm sản xuất Cobb-Douglas $Y = T \cdot K^\alpha L^\beta R^\gamma$; phân tích các nhân tố vốn (vốn sản xuất gồm 9 nhóm tài sản; vốn đầu tư; phương thức đầu tư trực tiếp, gián tiếp, BTO, BOT, BT; các nguồn ODA, NGO, FDI), nhân tố lao động (dân số, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động, thất nghiệp trá hình), tài nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ.
  • Các mô hình tăng trưởng cổ điển và hiện đại: Mô hình cổ điển của Adam Smith (Của cải của các quốc gia với thuyết giá trị lao động, bàn tay vô hình, phân phối thu nhập) và David Ricardo (nông nghiệp và đất đai là giới hạn của tăng trưởng); mô hình tái sản xuất và giá trị thặng dư của Karl Marx ($C+V+m$, phân chia sản xuất vật chất và phi vật chất); mô hình tân cổ điển của Alfred Marshall (Các nguyên lý của kinh tế học - 1890, tính thay thế của vốn và vai trò công nghệ).

2. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận và phân tích thực chứng:

  • Phương pháp duy vật biện chứng, lịch sử và lôgíc.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp.
  • Phương pháp tư duy cụ thể và trừu tượng, quan sát và thực nghiệm.
  • Phương pháp đánh giá hoạt động kinh tế và phân tích thống kê mô tả, so sánh liên ngành, liên vùng.

3. Nguồn dữ liệu

  • Niên giám Thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 1999.
  • Niên giám Thống kê Việt Nam (Tổng cục Thống kê).
  • Báo cáo thống kê năm 2000 của Sở Địa chính tỉnh Bắc Kạn.
  • Báo cáo và tư liệu điều tra của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn.
  • Báo cáo về tình hình phát triển thế giới của Ngân hàng Thế giới (World Bank - 1998).

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục của khóa luận gồm 3 phần chính phản ánh tuần tự từ lý luận đến thực tiễn địa phương:

Phần I: Những vấn đề cơ bản về tăng trưởng và phát triển kinh tế

Chương này dành trọn vẹn dung lượng để làm rõ các khái niệm cốt lõi, hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế - xã hội, các nhân tố ảnh hưởng (kinh tế và phi kinh tế như cơ cấu dân tộc, tôn giáo, văn hóa, thể chế chính trị) cùng các mô hình lý thuyết kinh tế.

Tác giả đưa ra bảng so sánh quy mô dân số và GNP năm 1997 của một số quốc gia dựa trên báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB 1998) nhằm chứng minh vai trò của chỉ số thu nhập bình quân đầu người:

Quốc gia Dân số (triệu người) GNP (tỷ USD) GNP/người (USD)
Anh 59 1.220,2 20.710
Pháp 59 1.526,0 26.050
Thái Lan 61 169,6 2.800
Ai Cập 60 71,2 1.180
Êtiôpia 60 6,5 110
Việt Nam 77 24,5 320

Phần II: Phân tích thực trạng tình hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tỉnh Bắc Kạn từ năm 1997 đến năm 2000

Chương này tập trung mổ xẻ toàn diện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn từ khi tái lập (1997) đến năm 2000:

1. Tổng quan các chỉ tiêu kinh tế - xã hội và tăng trưởng GDP

  • Quy mô và dân số: Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 479.554 ha; dân số trung bình năm 1997 là 265.718 người, mật độ 55,29 người/km²; đến năm 2000 dân số bình quân đạt 282.000 người. Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên bình quân giai đoạn 1997 - 2000 ở mức cao: 2,15%/năm (so với cả nước là 1,7% và thế giới là 1,4%).
  • Tăng trưởng GDP: Năm 1997 đạt 16,87% (hoặc 16,67%); năm 1998 đạt 6,7%; năm 1999 đạt 7,2%; năm 2000 đạt 8,12% (tính theo giá thực tế năm 1999 đạt 382.092 triệu đồng, chiếm 0,15% GDP cả nước). Mức tăng trưởng này cao hơn bình quân cả nước nhưng do quy mô nền kinh tế quá nhỏ nên mức tăng tuyệt đối chưa lớn.
  • GDP bình quân đầu người: Năm 1997 đạt 1.351 ngàn đồng/người, năm 1999 đạt 1.616 ngàn đồng/người, thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân cả nước năm 1999 (khoảng 5.000 ngàn đồng/người).
Chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu Đơn vị Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999
Dân số trung bình Người 265.718 - -
Mật độ dân số Người/km² 55,29 56,49 57,70
Lương thực quy thóc bình quân đầu người kg/người 308,9 313,6 321,65
Diện tích rừng trồng tập trung ha 2.874 - -
GDP tính theo giá thực tế Triệu đồng 358.187 - 382.092
GDP bình quân đầu người Ngàn đồng 1.351 - 1.616
Tổng thu ngân sách Nhà nước Triệu đồng 16.352 - -
Tỷ lệ huy động ngân sách % 4,71 5,54 6,67
Tổng chi ngân sách Nhà nước Triệu đồng 183.294 211.201 306.000
Số học sinh phổ thông Học sinh - - 69.683
Số y, bác sĩ / 1 vạn dân Người 16,79 19,02 19,73
Số giường bệnh / 1 vạn dân Giường 31,45 32,08 31,80

2. Cơ cấu kinh tế và thành phần kinh tế

  • Cơ cấu ngành trong GDP (năm 1999): Nông - lâm nghiệp - thủy sản chiếm 60,16% (cả nước là 25,43%); Công nghiệp - XDCB chiếm 9,91% (cả nước là 34,49%); Dịch vụ chiếm 29,93% (cả nước là 40,08%). Cơ cấu phản ánh nền kinh tế thuần nông lạc hậu, chuyển dịch cơ cấu ngành còn chậm chạp.
  • Cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP (năm 1999): Kinh tế cá thể giữ vai trò chủ đạo chiếm 73,08%; Kinh tế Nhà nước chiếm 24,73%; Kinh tế tư nhân chiếm 1,10%; Kinh tế tập thể chiếm 0,21%; khu vực kinh tế hỗn hợp và có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chưa phát sinh đóng góp (0%).
  • Thu - chi ngân sách: Tình trạng thu không đủ chi diễn ra liên tục, mức huy động ngân sách từ kinh tế nội tại thấp (4,71% - 6,67%). Năm 1997 thu đạt 16.352 triệu đồng nhưng chi lên tới 183.294 triệu đồng; năm 1999 chi ngân sách lên tới 306.000 triệu đồng (trong đó chi xây dựng cơ bản tập trung chiếm 119.839 triệu đồng). Tỉnh phụ thuộc hơn 90% vào nguồn trợ cấp cân đối từ ngân sách Trung ương.
Cơ cấu GDP theo ngành (Giá hiện hành) Bắc Kạn 1997 (%) Bắc Kạn 1999 (%) Cả nước 1997 (%) Cả nước 1999 (%)
Nông - lâm nghiệp - thủy sản 61,60 60,16 25,77 25,43
Công nghiệp - Xây dựng cơ bản 9,60 9,91 32,07 34,49
Dịch vụ 28,80 29,93 42,16 40,08

3. Thực trạng các ngành sản xuất cụ thể

  • Nông - lâm nghiệp - thủy sản: Tính đến 01/7/1999 có 47.660 hộ nông nghiệp với 238.262 nhân khẩu (chiếm 86,1% toàn tỉnh) và 121.000 lao động. Trồng trọt chiếm trên 60% giá trị sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi chiếm trên 30%, dịch vụ dưới 1%. Sản lượng lương thực tăng đều trên 3.000 tấn/năm, trong đó lúa chiếm 72,03%, hoa màu chiếm 27,97%. Huyện Ba Bể có diện tích gieo trồng (7.651 ha) và sản lượng quy thóc lớn nhất (22.892 tấn). Năng suất lúa năm 1999 đạt 36,05 tạ/ha (thấp hơn bình quân cả nước là 41,00 tạ/ha). Lâm nghiệp năm 1999 đạt 86.000 triệu đồng, chủ yếu khai thác gỗ, củi, tre nứa. Thủy sản quy mô rất nhỏ (năm 1997 đạt 2.000 triệu đồng).
  • Công nghiệp và Xây dựng cơ bản: Tỷ trọng công nghiệp trong GDP dưới 10%. Năm 1999 có 860 cơ sở công nghiệp địa phương (6 cơ sở quốc doanh với 657 lao động; 854 cơ sở ngoài quốc doanh với 2.463 lao động). Ngành chế biến tăng trưởng nhanh, đạt 30.000 triệu đồng năm 1999 (riêng chế biến gỗ, tre nứa đạt 11.365 triệu đồng). Vốn xây dựng cơ bản tăng từ 122.217 triệu đồng (1997) lên 223.000 triệu đồng (1999), tập trung chủ yếu vào giao thông, thủy lợi, lưới điện, trường học và trụ sở hành chính.
  • Thương mại, dịch vụ, văn hóa - xã hội: Năm 1999 có 1.655 hộ đăng ký kinh doanh dịch vụ, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 272.983 triệu đồng. Hạ tầng y tế đạt 546 y bác sĩ (19,73 người/vạn dân) và 879 giường bệnh (31,80 giường/vạn dân), cao hơn mức bình quân cả nước. Giáo dục có 192 trường học (122 trường cụm xã, 7 trường cấp III, 5 trường phổ thông dân tộc nội trú).

4. Tiềm năng và các nguồn lực phát triển

  • Vị trí địa lý: Nằm trên trục Quốc lộ 3 nối Thái Nguyên - Cao Bằng đến cửa khẩu biên giới Trung Quốc; 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số (thuộc 7 dân tộc).
  • Đất đai (năm 2000): Tổng diện tích tự nhiên 479.773 ha (đất nông nghiệp: 23.686 ha - chiếm 4,94%; đất lâm nghiệp: 264.128 ha - chiếm 55,1%; đất chưa sử dụng còn rất lớn: 180.733 ha - chiếm 37,7%, tập trung tại Chợ Đồn, Na Rỳ, Ba Bể).
  • Tài nguyên rừng và khoáng sản: Rừng tự nhiên lớn nhất vùng Đông Bắc, trữ lượng khai thác gỗ ước đạt 300.000 m³/năm (mới khai thác 1/10); 826 loài thực vật (300 loài gỗ, 300 cây thuốc, 52 loài sách đỏ); 366 loài động vật (72 thú, 169 chim). Khoáng sản giàu tiềm năng chì, kẽm, đá, cát sỏi làm vật liệu xây dựng. Cảnh quan hồ Ba Bể là thế mạnh du lịch sinh thái.

Phần III: Một số phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế tỉnh Bắc Kạn từ nay đến năm 2010

Dựa trên các phân tích thực trạng và tiềm năng, phần này định hình các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu kinh tế - xã hội và nhóm chính sách, giải pháp cụ thể: đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi, khai thác quỹ đất trống đồi trọc, phát triển công nghiệp chế biến lâm sản và khai thác khoáng sản tinh chế, huy động các nguồn vốn đầu tư hạ tầng, mở rộng kinh tế thương mại - du lịch hồ Ba Bể, và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc.


Kết quả và đóng góp

  1. Khái quát bức tranh kinh tế thời kỳ đầu tái lập tỉnh: Công trình đã thu thập, tổng hợp và phân tích một hệ thống số liệu kinh tế toàn diện của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1997 - 2000, chỉ rõ mức tăng trưởng GDP khá cao (đạt đỉnh 16,87% năm 1997 và duy trì 7,2% - 8,12% giai đoạn 1999 - 2000) nhưng quy mô tuyệt đối còn nhỏ và thu nhập bình quân đầu người rất thấp (1.616 ngàn đồng năm 1999).
  2. Nhận diện điểm nghẽn cơ cấu: Tác giả chứng minh cơ cấu kinh tế của tỉnh mất cân đối nghiêm trọng với tỷ trọng nông lâm nghiệp chiếm tới 60,16%, công nghiệp chỉ chiếm 9,91% GDP; khu vực kinh tế cá thể chiếm 73,08% và nguồn thu ngân sách địa phương chỉ đáp ứng chưa đến 10% nhu cầu chi, phải dựa vào hỗ trợ từ Trung ương.
  3. Định lượng tiềm năng nguồn lực: Đề tài đã hệ thống hóa các lợi thế so sánh về quỹ đất chưa sử dụng (180.733 ha), tài nguyên rừng (55,1% diện tích tự nhiên, trữ lượng gỗ 300.000 m³/năm) và tiềm năng khoáng sản kim loại màu chì - kẽm làm luận cứ cho chiến lược phát triển dài hạn đến 2010.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo lời tự nhận định của tác giả, đề tài được thực hiện trong thời gian thực tập ngắn, nguồn tư liệu thống kê của một tỉnh mới tái lập còn phân tán và năng lực nghiên cứu ban đầu còn nhiều hạn chế, do đó một số nội dung đánh giá chuyên sâu về hiệu quả vốn đầu tư và phân tích chuỗi giá trị ngành hàng chưa thể hoàn thiện trọn vẹn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi biến động cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001 - 2010, xây dựng mô hình định lượng đánh giá tác động của các dự án giao thông trọng điểm (Quốc lộ 3) và đề xuất cơ chế liên kết kinh tế vùng với các tỉnh lân cận như Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên và học viên chuyên ngành Quản lý Kinh tế, Kinh tế Phát triển, Kinh tế Địa phương; các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
  • Nội dung giá trị: Khung lý thuyết tổng hợp về các chỉ số phát triển kinh tế - xã hội (hệ số Gini, đường cong Lorenz, hàm Cobb-Douglas) và tập dữ liệu thống kê nguyên bản về kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn giai đoạn bản lề 1997 - 2000 ngay sau khi chia tách địa giới hành chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cụ thể mà khóa luận hướng tới đóng góp giải pháp là bao nhiêu?

Khóa luận hướng tới mục tiêu đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm góp phần thực hiện thành công chỉ tiêu do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra là đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 7,2% cho giai đoạn đến năm 2010.

2. Tốc độ tăng trưởng GDP và cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh Bắc Kạn năm 1999 đạt mức nào?

Năm 1999, tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Bắc Kạn đạt 7,2% (cao hơn mức 4,77% của cả nước). Cơ cấu kinh tế phân theo ngành gồm: Nông - lâm nghiệp - thủy sản chiếm 60,16%, Dịch vụ chiếm 29,93% và Công nghiệp - Xây dựng cơ bản chiếm 9,91%.

3. Thực trạng ngân sách Nhà nước tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1997 - 1999 diễn ra như thế nào?

Bắc Kạn rơi vào tình trạng bội chi ngân sách nghiêm trọng do nguồn thu tại chỗ rất hạn chế (năm 1997 thu 16.352 triệu đồng, tỷ lệ huy động ngân sách đạt 4,71% - 6,67%), trong khi nhu cầu chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tăng nhanh (chi ngân sách năm 1999 lên tới 306.000 triệu đồng). Hơn 90% chi ngân sách địa phương phải nhờ Trung ương cấp bù cân đối.

4. Tiềm năng đất đai và tài nguyên rừng của tỉnh Bắc Kạn được thống kê ra sao?

Tính đến năm 2000, tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 479.773 ha; trong đó đất lâm nghiệp chiếm 264.128 ha (55,1%), đất nông nghiệp là 23.686 ha (4,94%), và đất chưa sử dụng còn tới 180.733 ha (37,7%). Trữ lượng gỗ có thể khai thác ước tính khoảng 300.000 m³/năm nhưng tại thời điểm nghiên cứu mới chỉ khai thác khoảng 1/10 trữ lượng.

5. Tác giả sử dụng các mô hình lý thuyết kinh tế kinh điển nào trong chương cơ sở lý luận?

Tác giả đã hệ thống hóa mô hình kinh tế cổ điển của Adam Smith (học thuyết giá trị lao động, bàn tay vô hình) và David Ricardo (nông nghiệp và đất đai là giới hạn tăng trưởng); học thuyết tái sản xuất và giá trị thặng dư của Karl Marx; mô hình cân bằng tân cổ điển của Alfred Marshall; cùng hàm sản xuất hiện đại Cobb-Douglas ($Y = T \cdot K^\alpha L^\beta R^\gamma$).


Kết luận

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của tác giả Hoàng Văn Khởi đã hệ thống hóa sâu sắc các lý thuyết phát triển kinh tế học và cung cấp bức tranh dữ liệu xác thực về kinh tế tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1997 - 2000. Công trình đã làm nổi bật những đặc trưng của một tỉnh miền núi mới tái lập với xuất phát điểm thấp, kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp chiếm ưu thế và ngân sách phụ thuộc Trung ương. Các định hướng và giải pháp được xây dựng bám sát tiềm năng đất lâm nghiệp, khoáng sản và du lịch sinh thái, tạo nền tảng tư liệu hữu ích cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế địa phương đến năm 2010.