CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ GỬI TIỀN TIẾT KIỆM 1. Cơ sở lý thuyết về tiền gửi tiết kiệm 1. Khái niệm tiền gửi tiết kiệm Khách hàng mang một số tiền đến ngân hàng gửi để hưởng một mức lãi suất nhất định trong một khoảng thời gian nhất định được gọi là tiền gửi tiết kiệm.Kolari , 2005) Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân gửi vào ngân hàng, ngân hàng tạm thời quản lý, sử dụng và có trách nhiệm hoàn trả lại cho người gửi. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một NHTM nào vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của NHTM.
Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau. Theo Trầm Thị Xuân Hương và các cộng sự (2012), các khái niệm về hoạt động gửi tiền tiết kiệm gồm: Người gửi tiền: là người đến ngân hàng thực hiện giao dịch gửi tiền tiết kiệm, đồng thời cũng là người chủ sở hữu, đồng sở hữu hoặc là người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu, của đồng sở hữu tiền gửi tiết kiệm. Chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm: là người được phép thực hiện các giao dịch liên quan đến số tiền gửi tiết kiệm và đồng thời cũng là người đứng tên trên thẻ tiết kiệm. Đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm: trên thẻ tiết kiệm có kỳ hạn có nhiều hơn hai cá nhân cùng đứng tên.
Giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm: các giao dịch gửi tiền, rút tiền và các giao dịch khác liên quan đến số tiền gửi tiết kiệm. Thẻ tiết kiệm: chủ sở hữu hay đồng chủ sở hữu sẽ được xác nhận số tiền gửi tiền kiệm tại ngân hàng thông qua chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu. Kỳ hạn gửi tiền: khoảng thời gian người gửi tiền chọn và được tính từ ngày khách hàng gửi tiền đến ngày ngân hàng cam kết trả hết tiền gốc và lãi số tiền trên. 9 Lãi suất tiền gửi tiết kiệm do từng ngân hàng quy định, phù hợp với lãi suất của thị trường và quy định của ngân hàng nhà nước.
Lãi suất sẽ được cố định trong kỳ hạn người gửi tiền đã chọn. Lãi suất được tính theo ngày, hiện nay theo quy định của ngân hàng nhà nước là tính 1 năm có 365 ngày thay vì 360 ngày như trước đây. Phân loại tiền gửi tiết kiệm Theo Trầm Thị Xuân Hương và các cộng sự (2012), theo thời gian gửi, tiền gửi tiết kiệm được phân loại thành tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn ngắn, trung, dài hạn. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền được rút tiền ra bất cứ lúc nào, rút một phần hay toàn phần bằng tiền mặt hay thanh toán chuyển khoản.
Đối tượng huy động chủ yếu là cá nhân có các khoản tiền tạm thời chưa sử dụng. Khi gửi tiền vào, khách hàng sẽ được ngân hàng cấp một sổ tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Mỗi lần giao dịch khách hàng phải mang sổ tiết kiệm. Sổ tiết kiệm này sẽ phản ánh tất cả các giao dịch gửi tiền, rút tiền, tiền lãi được hưởng và số dư hiện có.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là hình thức gửi tiền tiết kiệm mà người gửi chỉ được rút ra sau một kỳ hạn nhất định. Ngân hàng có thể huy động dưới hình thức sổ tiết kiệm hay chứng chỉ tiền gửi, nhằm huy động những khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân gửi vào với mục đích nhận lãi và đảm bảo an toàn tài sản. Khi gửi tiền vào khách hàng sẽ được ngân hàng cấp cho một sổ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Mỗi một món tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được ngân hàng theo dõi thẻ lưu chi tiết vì mỗi món tiền này có ngày đáo hạn khác nhau, lãi suất khác nhau.
Tiền gửi tiết kiệm thường là tiền tạm thời nhàn rỗi trong một thời gian nhất định, do đó loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thường chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn huy động của NHTM và mang tính ổn định hơn tiền gửi thanh toán. Vì vậy, với hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn để cho vay ngắn, trung, dài hạn. Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm Theo Trầm Thị Xuân Hương và các cộng sự (2012), tiền gửi tiết kiệm có các đặc điểm sau: Tiền gửi tiết kiệm có thời gian cụ thể: khi đến gửi tiền, khách hàng sẽ chọn kỳ hạn muốn gửi. Ngày đến hạn là ngày khách hàng sẽ nhận lại được khoản tiền gốc và lãi.
Bên cạnh đó, khách hàng có thể chọn hình thức gửi tiền không kỳ hạn để linh hoạt với nhu cầu sử dụng. Người gửi tiền tiết kiệm sẽ nhận được lãi suất. Lãi suất là khoản tiền lời của người gửi tiết kiệm khi gửi tiền. Hiện nay ngân hàng có hai mức lãi suất là lãi suất có kỳ hạn và không kỳ hạn.
Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn sẽ cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Các ngân hàng thương mại sẽ theo dõi và quản lý số tiền, lãi suất, kỳ hạn gửi tiền tiết kiệm của người gửi tiền thông qua chứng nhận quyền sở hữu bao gồm sổ/thẻ tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm có tính chất ổn định, an toàn. Người gửi tiền biết trước khoản tiền lãi mình sẽ nhận sau khi gửi tiết kiêm, tiền gửi tiết kiêm được giữ an toàn trong ngân hàng và khi có nhu cầu gấp, có thể rút các khoản tiền gửi ra sử dụng và chỉ mất lãi suất được hưởng của kỳ hạn đó.
Tiền gửi tiết kiệm của các ngân hàng thương mại là khoản tiền phải dự trữ bắt buộc và mua bảo hiểm tiền gửi theo quy định của ngân hàng nhà nước. Vai trò của tiền gửi tiết kiệm Theo Trầm Thị Xuân Hương và các cộng sự (2012), tiền gửi tiết kiệm có vai trò: Đối với các ngân hàng thương mại: tiền gửi tiết kiệm góp một phần lớn vào nguồn vốn của các ngân hàng, cung cấp vốn cho các hoạt động kinh doanh như thanh toán quốc tế, tín dụng…để tạo ra lợi nhuận ổn định. 11 Đối với khách hàng: người gửi tiền sẽ nhận được lãi từ khoản tiền gửi, đảm bảo an toàn và thanh khoản cao cho tài sản của chính mình. Ngân hàng dễ dàng tiếp cận với khách hàng khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ khác của ngân hàng.
Đối với nền kinh tế: Ngân hàng tạo thành nguồn vốn lớn từ các khoản tiền gửi tiết kiệm, nhàn rỗi, nhỏ lẻ trong nền kinh tế, giúp đáp ứng các nhu cầu sử dụng nguồn vốn khác nhau và thúc đẩy phát triển kinh tế. Ngoài ra, thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc của nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm, ngân hàng nhà nước có thể điều hành hiệu quả các chính sách. Mô hình hành vi sử dụng dịch vụ tài chính Theo Trần Hoàng Mai và các cộng sự (2008), dịch vụ ngân hàng không giống như nhiều hàng hóa vật chất hữu hình khác, chỉ mua một lần rồi kết thúc mà bao gồm hàng loạt sự tương tác trong bối cảnh của một mối quan hệ lâu dài. Sự tương tác giữa người tiêu dùng và định chế tài chính sẽ ảnh hưởng quan trọng đến hành vi ứng xử.
Có sự khác nhau về bản chất của thông tin được sử dụng trước khi ra quyết định mua, sau khi mua và trong khi tiêu thụ để đánh giá đầu ra của quyết định. Do đó, nguồn thông tin bên trong, các nguồn thông tin do trải nghiệm và các nguồn thông tin cá nhân có thể do truyền miệng/ tin đồn sẽ có tầm quan trọng ngày càng tăng. Giai đoạn sau khi quyết định mua được xem là giai đoạn quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình. Như kết quả của luận điểm trên, các biện pháp giảm bớt sự không tương thích sẽ rất quan trọng nhằm tăng cường sự khẳng định giữa người tiêu dùng và các định chế tài chính cũng kéo dài thời gian của mối quan hệ giữa hai bên.
Việc đánh giá dịch vụ ngân hàng và nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng cũng ngày càng quan trọng và mãnh liệt hơn trong quá trình mua sắm. Vai trò của việc đánh giá sau khi có quyết định mua sắm là đặc biệt quan trọng trong việc cho phép người tiêu dùng có tiếp tục hay chấm dứt mối quan hệ với nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng. 12 Khi khách hàng quyết định mua một dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu nào đó của mình thì họ sẽ trải qua một quá trình mua sắm phức tạp. Quá trình này thường bao gồm 3 giai đoạn khác nhau: giai đoạn trước khi mua, giai đoạn thực hiện dịch vụ và giai đoạn sau khi mua.
Quá trình lựa chọn, sử dụng và đánh giá dịch vụ ngân hàng (Nguồn: Trần Hoàng Mai, Nguyễn Văn Sáu, Trịnh Quốc Trung, 2008) ❖ Giai đoạn trước khi mua Quyết định mua và sử dụng dịch vụ được thực hiện trong giai đoạn trước khi mua. Tại thời điểm này, nhu cầu và kỳ vọng của các cá nhân và tổ chức rất quan trọng vì chúng ảnh hưởng đến những gì mà các khách hàng tiềm năng sẽ xem xét khi lựa chọn dịch vụ cũng như nhà cung cấp. Nếu việc mua sắm có tính thường xuyên và rủi ro khá thấp thì khách hàng có thể nhanh chóng lựa chọn và sử dụng dịch vụ của một nhà cung cấp cụ thể nào đó. Nhưng trong trường hợp khách hàng đang xem xét sử dụng một dịch vụ nào đó lần đầu tiên hoặc có tác động đến cuộc sống của mình thì khách hàng có thể tiến hành tìm kiếm 13 thông tin chuyên sâu.
Bước tiếp theo là xác định những nhà cung cấp tiềm năng và so sánh giữa lợi ích và rủi ro của từng phương án trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Khi khách hàng cảm thấy không thoải mái vì các rủi ro thì họ có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giảm thiểu những rủi ro này trong giai đoạn trước khi mua.