CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm đầu tư, vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư Đầu tư được định nghĩa là những hoạt động sử dụng vốn, sử dụng các nguồn lực nhằm mang đến hiệu quả kinh tế cũng như giá trị sử dụng tốt hơn trong tương lai so với nguồn lực đang sử dụng. Theo khoản 8 điều 3 Luật Đầu tư năm 2020 quy định: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh”.
thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Hiểu theo nghĩa rộng, đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực tài chính, vật chất, lao động, trí tuệ, nhân công trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội… để đạt được mục đích kinh tế xã hội và lợi nhuận trong tương lai. Vốn được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của một đơn vị kinh tế hay một quốc gia. Các loại vốn đang trong quá trình đầu tư xây dựng được gọi là vốn đầu tư.
Vốn đầu tư là toàn bộ những chi tiêu để tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời gian nhất định. Vốn đầu tư thường thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lưu động. Thu hút vốn đầu tư là hoạt động nhằm khai thác, huy động các nguồn vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế. Thu hút vốn đầu tư bao gồm tổng hợp các cơ chế, chính sách, thông qua các điều kiện về hành lang pháp lý, kết cấu hạ tầng kỹ thuật – xã hội, các nguồn tài nguyên, môi trường… để thu hút các nhà đầu tư vốn, khoa học công nghệ…để sản xuất kinh doanh nhằm đạt được một mục tiêu nhất định.
Thực chất thu hút vốn đầu tư là làm gia tăng sự chú ý, quan tâm của các nhà đầu tư để từ đó dịch chuyển vốn đầu tư vào địa phương hoặc ngành. Các nguồn vốn đầu tư Theo góc độ toàn bộ nền kinh tế, nguồn vốn đầu từ được chia làm 2 loại, bao gồm: Nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn đầu tư trong nước Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình sản xuất của xã hội. Ưu điểm của vốn đầu tư trong nước là bền vững, ổn định, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và tránh được hậu quả từ bên ngoài.
Nguồn vốn nhà nước bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước. Tiết kiệm của ngân sách nhà nước: Là số chênh lệch dương giữa tổng các khoản thu mang tính không hoàn lại, chủ yếu là thuế, với tổng chi tiêu của ngân sách. Tiền của khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn đầu tư của nhà nước và phụ thuộc vào chính sách chi tiêu của ngân sách. Tiết kiệm doanh nghiệp: Là số lãi ròng có được từ kết quả kinh doanh.
Đây là nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư phát triển theo chiều rộng và chiều sâu. Quy mô tiết kiệm của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố trực tiếp như hiệu quả kinh doanh, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vĩ mô… Tiết kiệm của khu vực dân cư: Là khoản tiền còn lại của thu nhập sau khi đã phân phối và sử dụng cho mục đích tiêu dùng. Quy mô tiết kiện của khu vực dân cư chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố trực tiếp như trình độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, chính sách lãi suất, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vĩ mô… 1. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm phần tích lũy của cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại.
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng lưu chuyển vốn quốc tế. Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu hiện cụ thể quá trình chuyển giao nguồn lực chính giữa các nước trên thế giới. Theo tính chất của dòng luân chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngoài chính như sau: Viện trợ phát triển chính thức ODA: Đây là tất cả các khoản viện trợ của các đối tác viện trợ nước ngoài dành cho Chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ. Gọi 5 là “Viện trợ” bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài.
Gọi là “Phát triển: vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là “Chính thức”, vì nó thường là cho Nhà nước vay. ODA một vừa là nguồn bổ sung cho nguồn vốn trong nước để phát triển kinh tế, vừa giúp các quốc nhận viện trợ tiếp cận nhân chóng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Ngoài ra, nó tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và đào tạo phát triển nguồn nhân lực.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: Đây là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Các hình thức chủ yếu của FDI ở nước ta như doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức BOT, BTO, BT. FDI không chỉ đơn thuần đưa ngoại tệ vào nước sở tại mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả năng tiếp cận thị trường thế giới, giải quyết việc làm, sử dụng tài nguyên trong nước.
Đầu tư nước ngoài đem theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành nghề đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay nhiều vốn. Vì thế nguồn vốn này có tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng nhanh của nước tiếp nhận đầu tư. Du lịch và phát triển du lịch Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định.[2] Theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống. 6 Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Nhìn từ góc độ nhu cầu của du khách: Du lịch là một sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người đến một giai đoạn phát triển nhất định chỉ trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, gia tăng thu nhập bình quân đầu người, tăng thời gian rỗi do tiến bộ khoa học- công nghệ, phương tiện giao thông và thông tin ngày càng phát triển, làm phát sinh nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan du lịch của con người. Bản chất đích thực của du lịch là du lịch ngoạn để cảm nhận những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hóa cao. Như vậy, có rất nhiều khái niệm du lịch nhưng tổng hợp lại du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản là: Thứ nhất, du lịch là một hiện tượng kinh tế- xã hội Thứ hai, du lịch là một tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và cho các nhu cầu khác của các nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú. Đặc điểm ngành du lịch Du lịch là một ngành có tính thời vụ cao đây là hiện tượng có những thời điểm cung và cầu không đáp ứng được cho nhau vì trong du lịch lượng cung khá ổn định nhưng nhu cầu khách hàng thường xuyên thay đổi theo mùa vụ.
Phát triển du lịch vừa mang mục tiêu kinh tế vừa mang mục tiêu xã hội. Phát triển du lịch mang tính xã hội sâu sắc và nhiều thành phần kinh tế tham gia. Hoạt động đầu tư phát triển ngành du lịch đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư, lao động lớn, thời gian đầu tư kéo dài. Vai trò của du lịch 1.
Về mặt kinh tế Du lịch là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống kinh tế - xã hội của con người và trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của hầu hết các quốc gia. Thậm chí, nhiều nước có ngành du lịch là nguồn thu chủ yếu, ngành kinh tế “mũi nhọn”, điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế. Đây không chỉ là ngành mang lại hiệu quả cao, mà còn là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Du lịch 7 có ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế với nhiều yếu tố tự nhiên: cảnh quan, di tích lịch sử, văn hóa đời sống dân tộc.
Các yếu tố thúc đẩy đầu tư cho du lịch: cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật phục vụ du khách. Sự phát triển của ngành du lịch có tác động rất mạnh tới cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ nền kinh tế, ảnh hưởng tới hoạt động tài chính đất nước: cán cân thu, chi, hoạt động thu, đổi ngoại tệ. Như vậy, về mặt kinh tế, du lịch có vai trò hết sức to lớn. Nó làm thay đổi bộ mặt kinh tế của một quốc gia, giúp quảng bá hình ảnh đất nước.