MỞ ĐẦU Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề đang đƣợc toàn nhân loại quan tâm. Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế-xã hội và môi trƣờng toàn cầu. BĐKH thực sự đang diễn ra và gây ra nhiều tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trƣờng tại nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó Việt Nam là một trong những nƣớc chịu ảnh hƣởng nặng nề nhất do những tác động của BĐKH [22]. Chính phủ Việt Nam đã lồng ghép ứng phó với BĐKH vào Luật Bảo vệ Môi trƣờng, vào các chƣơng trình quốc gia, nhƣ: Chƣơng trình nghị sự 21 (Agenda 21) của Việt Nam, Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học (ĐDSH) và BĐKH, Chiến lƣợc quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020,…Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng đã đƣợc chỉ định là Cơ quan đầu mối Quốc gia về các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện Công ƣớc Khung của Liên hiệp quốc về BĐKH và Nghị định thƣ Kyoto.
Ngày 03/12/2007, Chính phủ đã có Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Chƣơng trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH, kêu gọi sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế và đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ thông qua tháng 12 năm 2008. Nam Định là một tỉnh ven biển đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) với đƣờng bờ biển dài khoảng 72 km và bị chia cắt khá mạnh mẽ bởi các cửa sông lớn nhƣ: cửa Ba Lạt (sông Hồng), cửa Đáy (sông Đáy), cửa Lạch Giang (sông Ninh Cơ) và cửa Hà Lạn (sông Sò). Nam Định có khu bảo tồn thiên nhiên vƣờn quốc gia (VQG) Xuân Thủy huyện Giao Thuỷ, nằm ở vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển ĐBSH đã đƣợc UNESCO công nhận. Nam Định mang đầy đủ những đặc điểm của tiểu khí hậu nhiệt đới của vùng ĐBSH: gió mùa, nóng ẩm, mƣa nhiều và có 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông).
Hàng năm, Nam Định thƣờng chịu ảnh hƣởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 2- 4 cơn/năm. Các hiện tƣợng thời tiết cực đoan: tăng nhiệt độ; thay đổi lƣợng mƣa; tăng tần xuất, mức độ rét đậm, rét hại,… kết hợp với nƣớc 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biển dâng (NBD), xâm nhập mặn (XNM) đang gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, tài nguyên nƣớc, đảm bảo vệ sinh môi trƣờng; đe dọa an ninh lƣơng thực của tỉnh. Các trận bão, lũ dồn dập gây sạt lở tuyến đê sông, bãi bồi dẫn đến mất đất canh tác, đe dọa cuộc sống ngƣời dân vùng bãi, ven đê. NBD kết hợp bão, lũ là nguyên nhân sạt lở đê biển, bãi bồi ảnh hƣởng đến hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, sản xuất muối; thiệt hại về ngƣời và tài sản của nhân dân các huyện ven biển tỉnh Nam Định.
Trƣớc nguy cơ ảnh hƣởng và cảnh báo về BĐKH, Nam Định cần phải có các giải pháp, kế hoạch thích ứng với BĐKH nhằm ứng phó với hiểm họa này. Triển khai kế hoạch quốc gia, Nam Định đã xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của tỉnh giai đoạn 2011 - 2015, tầm nhìn đến 2020. Kế hoạch của tỉnh định hƣớng đảm bảo khai thác và sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nƣớc, đất, rừng trên địa bàn tỉnh Nam Định. Các dự báo ảnh hƣởng của BĐKH đến các cụm công nghiệp (CCN), khu vực đô thị, khu vực nhạy cảm cao về môi trƣờng,…giúp công tác quy hoạch đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển của tỉnh Nam Định trong giai đoạn trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài.
Khía cạnh các cơ hội từ BĐKH đƣợc tính đến sẽ giúp tỉnh chủ động khai thác hiệu quả nhất những tác động tích cực của nó từ đó góp phần giảm thiểu thiệt hại do BĐKH tác động đến KT-XH của tỉnh. Kế hoạch cũng huy động sự tham gia của hầu hết các cơ quan quản lý nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh. Qua đó gián tiếp cung cấp kiến thức, tập trung sự quan tâm của các cán bộ, nhân dân tỉnh Nam Định đối với công tác ứng phó với BĐKH, góp phần tích cực, chủ động thực hiện Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của tỉnh nói trên. Những năm qua, các ảnh hƣởng của BĐKH nhƣ áp thấp nhiệt đới, bão, lũ lụt, hạn hán, XNM, triều cƣờng, sạt lở đất, dịch bệnh,… đã tác động không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp, nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng, khai thác và nuôi trồng thủy hải sản và du lịch; tài nguyên ĐDSH và hệ sinh thái; sức khỏe ngƣời dân, giao thông và cơ sở hạ tầng,…Điều này đã đặt ra cho tỉnh Nam Định phải đối mặt trƣớc những thách thức rất nghiêm trọng.
Những ảnh hƣởng này đã và 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sẽ là rào cản đối với tăng trƣởng bền vững và mục tiêu trở thành trung tâm vùng nam đồng bằng sông hồng (ĐBSH) của Nam Định. Ứng phó với BĐKH là việc làm cấp bách và có ý nghĩa, trong đó ƣu tiên thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng đƣợc đánh giá là cách tiếp cận phát huy hiệu quả cao, mang tính bền vững. Tuy nhiên, thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cũng không phải dễ dàng, và để thực hiện hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham gia chủ động của cộng đồng ngƣời dân địa phƣơng ven biển. Có một thực tế hiện nay là nguồn lực cho ứng phó với BĐKH tập trung vào nghiên cứu khoa học, xây dựng chính sách, còn rất thiếu cho các dự án thích ứng cụ thể.
Đặc biệt, để ứng phó với các hiện tƣợng thiên tai thƣờng diễn ra nhƣ hạn hán, lũ lụt,… thì công cuộc xã hội hóa nguồn lực và huy động sự tham gia của cộng đồng còn gặp không ít khó khăn. Tại tỉnh Nam Định, sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực này vì nhiều lý do khác nhau còn khá khiêm tốn, cộng đồng dân cƣ chƣa đƣợc tham gia nhiều trong kế hoạch ứng phó với BĐKH của tỉnh, đặc biệt cộng đồng tại các xã ven biển. Vì vậy, cần thay đổi cách tiếp cận và giải pháp để tăng cƣờng vai trò và sự tham gia của cộng đồng ngƣời dân ven biển trong thích ứng với BĐKH. Trƣớc thực trạng đó, việc “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng ở vùng ven biển tỉnh Nam Định’ là việc làm thật sự cần thiết.
Học viên lựa chọn đề tài luận văn thạc sỹ này với hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc huy động cộng đồng ven biển tham gia thích ứng với BĐKH. Giả thuyết nghiên cứu của đề tài là: - Phần lớn ngƣời dân mới biết mà chƣa hiểu một cách sâu sắc, đầy đủ những vấn đề thuộc bản chất của BĐKH, NBD và các tác động trƣớc mắt và lâu dài đến vùng ven biển và cƣ dân vùng này. Sự hiểu biết của ngƣời dân chƣa đủ biến thành thái độ, hành vi sống thân thiện với môi trƣờng, thích ứng với BĐKH. - Cần phải giúp các cộng đồng ven biển thay đổi nhận thức, cải thiện khả năng chống chịu với BĐKH thông qua các biện pháp thích ứng cụ thể và đồng 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Trên cơ sở đó hình thành các cộng đồng ven biển có khả năng thích ứng chủ động (không đối phó bị động) với tác động của BĐKH và NBD. Mục tiêu chung của đề tài nghiên cứu là : Nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH của cộng đồng dân cƣ vùng ven biển tỉnh Nam Định nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội vùng ven biển, góp phần thực hiện Chƣơng trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH trên địa bàn tỉnh Nam Định. Mục tiêu cụ thể đƣợc xác định là: - Thay đổi đƣợc nhận thức, góp phần cải thiện khả năng thích ứng với BĐKH của cộng đồng dân cƣ vùng ven biển nghiên cứu. - Đề xuất đƣợc một số giải pháp thích ứng với BĐKH và NBD dựa vào cộng đồng dân cƣ vùng ven biển nghiên cứu.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về biến đổi khí hậu và cộng đồng 1.1 Các khái niệm liên quan a) Khái niệm về biến đổi khí hậu BĐKH là sự thay đổi của khí hậu mà trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con ngƣời dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu đƣợc quan sát trên một chu kỳ thời gian dài [26]. Theo định nghĩa này, BĐKH là sự thay đổi của khí hậu đƣợc quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh đƣợc.
BĐKH xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu. Trong đó, trung bình đƣợc thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thƣờng là vài thập kỷ. b) Khái niệm thích ứng Thích ứng là một khái niệm rất rộng và khi áp dụng vào lĩnh vực BĐKH nó đƣợc dùng trong rất nhiều trƣờng hợp. Thích ứng với khí hậu là một quá trình qua đó con ngƣời làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ và đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trƣờng khí hậu mang lại.
Thuật ngữ thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, hoặc thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có phòng bị trƣớc, đƣợc đƣa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH [11]. Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu. Sự thích ứng có thể là tự phát hay đƣợc chuẩn bị trƣớc, và có thể đƣợc thực hiện để đối phó với những biến đổi trong nhiều điều kiện khác nhau [12]. Thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thƣơng.
Thích ứng cũng còn có nghĩa là các hành động tận dụng những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong việc đánh giá tác động của BĐKH, nhất thiết phải kể đến sự thích ứng.