PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn nhất của nền kinh tế quốc dân, nó chiếm vị trí chủ chốt ở khâu cuối cùng trong quá trình sáng tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định. Ngành xây dựng chiếm một nguồn kinh phí khá lớn của ngân sách quốc gia và xã hội, nó chiếm khoảng 10-20% GDP và đóng góp cho nền kinh tế quốc dân một khối lượng sản phẩm rất lớn, ngoài ra còn giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Để sản phẩm tạo ra trong quá trình xây dựng đạt hiệu quả cao về kinh tế cũng như chất lượng thì giải pháp tổ chức thi công đóng góp một phần hết sức quan trọng.
Hiện nay, biện pháp tổ chức thi công đang ngày càng được chú trọng và mang tính chuyên nghiệp hơn, nó tỷ lệ thuận với quy mô, chất lượng công trình và năng lực cũng như tham vọng của các đơn vị liên quan. Kinh nghiệm cho thấy công trình có yêu cầu cao về chất lượng, tiến độ thi công, hiệu quả kinh tế … thì đòi hỏi cần có một giải pháp tổ chức thi công hợp lý. Tỉnh Cao Bằng là tỉnh vùng cao biên giới, có hệ thống Sông suối nhỏ phù hợp cho Cao Bằng phát triển xây dựng công trình thủy điện vừa và nhỏ. Ưu thế của thủy điện nói chung và thủy điện vừa và nhỏ nói riêng so với các loại hình nhà máy điện khác là có khả năng tái tạo và giá thành rẻ hơn.
Do vậy, thủy điện vừa và nhỏ ngày càng trở nên phổ biến và mang lại đa lợi ích về kinh tế, xã hội, môi trường. Có thể nói, cho đến nay các dự án Thủy điện lớn có công suất trên 100MW hầu như đã được khai thác hết. Các dự án có vị trí thuận lợi, có chi phí đầu tư thấp cũng đã được triển khai thi công. Còn lại trong tương lai gần, các dự án Thủy điện công suất nhỏ sẽ được đầu tư khai thác.
Để có thể phát huy tối đa tiềm năng và thế mạnh của tỉnh, phát triển thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh theo hướng bền vững, đóng góp nhiều hơn nữa vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cao Bằng, đồng thời đem lại hiệu quả đầu 1 tư cho nhà đầu tư thì giai đoạn thực hiện dự án, triển khai thi công công trình thủy điện đảm bảo tiến độ dự án rất quan trọng….do đó tác giả chọn đề tài: “Đề xuất giải pháp thi công đảm bảo tiến độ xây dựng công trình Bê tông thuộc dự án xây dựng công trình nhà máy thủy điện Hoa Thám – tỉnh Cao Bằng” để làm đề tài luận văn. Mục đích nghiên cứu của đề tài Đề xuất một số giải pháp tổ chức thi công đảm bảo tiến độ xây dựng công trình bê tông thuộc dự án xây dựng công trình nhà máy thủy điện Hoa Thám– tỉnh Cao Bằng. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu. - Phương pháp khảo sát thực tế.
- Phương pháp phân tích. - Và các phương pháp kết hợp khác. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là những nhân tố làm ảnh hưởng đến quá trình thi công xây dựng công trình bê tông. - Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Trong đề tài này, luận văn đi sâu nghiên cứu giải pháp thi công công trình bê tông thuộc dự án xây dựng công trình nhà máy thủy Hoa Thám nhằm đảm bảo tiến độ thi công.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5.1 Ý nghĩa khoa học Đề tài hệ thống hóa lý luận cơ bản về lĩnh vực thi công xây dựng công trình, trên cơ sở đó chỉ ra một số biện pháp thi công nhằm đẩy nhanh tiến độ trong quá trình thi công xây dựng công trình bê tông. Những kết quả nghiên cứu đề tài có thể phục vụ công tác nghiên cứu và học tập.2 Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong việc thi công xây dựng công trình bê tông. Kết quả đạt được - Hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản trong công tác thi công xây dựng. - Phân tích thực trạng, những tồn tại mà giai đoạn 1 đã mắc phải và đã làm chậm tiến độ công trình nhà máy thủy điện Hoa Thám tỉnh Cao Bằng.
- Đề xuất giải pháp tổ chức thi công nhằm khắc phục hậu quả chậm tiến độ của giai đoạn 1 và đẩy nhanh tiến độ thi công công trình bê tông thuộc dự án xây dựng nhà máy thủy điện Hoa Thám. TỔNG QUAN VỀ THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1.1 Biện pháp thi công xây dựng công trình bê tông ở trong nước và trên thế giới 1.1 Tổng quan và sự phát triển về biện pháp tổ chức thi công trên thế giới Trên thế giới từ lâu đã áp dụng các tiến bộ công nghệ vào các khâu quản lý thi công, quản lý tiến độ và đã đem lại nhiều thành tựu to lớn cho thi công các công trình có tính chất phức tạp, tiến độ kéo dài. Đến nay, các công trình ở Việt Nam đã áp dụng các tiến bộ khoa học về công nghệ và hình thức tổ chức thi công tiên tiến đã có những thành tựu đáng kể. Ứng dụng công nghệ máy tính vào quản lý thi công xây dựng ngày nay là một yếu tố vô cùng quan trọng, giúp người quản lý dễ dàng xây dựng một bản kế hoạch chi tiết, cụ thể và nhanh chóng với độ chính xác cao.
Phần mềm MS Project là phần mềm điển hình trong số đó. Với giao diện trực quan, dễ sử dụng, phần mềm này cung cấp cho người dùng khả năng lập kế hoạch dự án, xác định hao phí tài nguyên, chi phí thực hiện, so sánh tìm ra phương án tối ưu giữa các bản tiến độ hay trong quá trình thi công có thể cập nhật tình hình thi công nhằm tiên lượng quá trình thi công tương lai, thay đổi công nghệ thi công một cách nhanh chóng, kịp thời. Một hình thức tổ chức thi công tốt nhất đem lại hiệu quả trong thi công xây dựng công trình là phương pháp thi công dây chuyền. công trình được ứng dụng công nghệ bê tông đầm lăn.
Đây là một công nghệ khá mới vào thời đó, đóng vai trò chủ chốt trong việc thúc đẩy tiến độ hoàn thành sớm vượt kế hoạch. Các công trình có chiều dài lớn với tính chất làm việc chu kỳ ( đường hầm, đường xá, kênh dẫn.) hoặc các công trình bê tông khối lớn phải phân chia thành nhiều đoạn nhiều tầng để thi công (các loại đê, đập bê tông, cửa nhận nước. Phương pháp này đem lại hiệu quả cao trong thi công công trình, đặc biệt các công trình thủy điện có tính chất phức tạp về kết cấu và thời gian thi công kéo dài. Có thể kể đến các công trình thủy điện lớn sau: 4 a) Đập Tam Hiệp ( Trung Quốc): Công suất 22.500 Mw là đập thủy điện lớn nhất thế giới được xây dựng trong 14 năm (1994 – 2008).
Vị trí đập chặn Sông Dương Tử tại tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Đập Tam Hiệp có chiều cao 185 m, chiều dài 2390 m và được xây dựng dưới hình thức là đập trọng lực bằng bê tông ( 27,2 triệu m3 bê tông và 463. Tổng chi phí xây dựng đập 75 tỷ USD.1 Công trình thủy điện Tam Hiệp. b) Đập Itaipu ( Brazil – Paraguay): Công suất 14.000 Mw là đập thủy điện nằm ở biên giới Brazil – Praguay chặn sông panara.
Tuy có công suất thiết kế nhỏ hơn đập Tam Hiệp, Trung Quốc nhưng lại có sản lượng hàng năm đứng đầu thế giới (cao hơn thủy điện Tam hiệp 10 %). Đập Itapu có chiều dài 7. Khối lượng đào di dời lên tới 50 triệu m3. Cung cấp 75% điện năng cho Paraquay và 15% cho Brazil.2 Công trình thủy điện Itaipu.
c) Đập Guri (Venezuela): Công suất 10.235 Mw là đập thủy điện nằm trên sông Caronni, Venezuela có chiều dài 7. Đập Guri cung cấp 73% sản lượng điện cho Venezuela.3 Công trình thủy điện Guri. 6 d) Đập Tucurui (Brazil): Đập Tucuruí là một đập trọng tải bê tông trên sông Tocantins thuộc Tucuruí ở Braxin. Phần chính của đập Tucuruí cao 78 mét và dài 6,9 km với những khối bê tông khổng lồ.
Việc bổ sung các con đê Mojú và Caraipé bằng đất khiến cho tổng chiều dài của con đập lên đến 12. Các hồ chứa nước vào đập có công suất 45 km³ với một khối lượng sống là 32 km³. Đập tràn dịch vụ kiểu Creager của đập chính là công trình lớn thứ hai trên thế giới với công suất tối đa 110. Đập cũng được sử dụng để di chuyển giữa sông Tocantins phần trên và dưới.4 Công trình thủy điện Tucurui.
e) Đập Grand Coulee ( Mỹ) – Công suất 6.809 nằm trên sông Columbia ở bang Washington, Mỹ. Đập được xây dựng giữa năm 1993 và năm 1942 ban đầu chỉ có 2 nhà máy điện. Một nhà máy thứ 3 được hoàn thành năm 1974.5 Công trình thủy điện Grand - coulee. f) Đập Sayano – Shushenskaya (Nga) – Công suất 6.499 Mw nằm trên sông Ienisei, Nga.
Đây là nhà máy thủy điện lớn nhất ở Nga cung cấp 25% lượng điện từ thủy điện cho toàn nước Nga.6 Công trình thủy điện Sayano – Shushenskaya. 8 g) Đập krasnoyarsk (Nga) – Công suất 6400 Mw nằm trên sông Yenisei, Nga. Đập cao 124 m được xây dựng từ năm 1956 đến 1972.7 Công trình thủy điện krasnoyarsk. h) Đập Longtan (Trung Quốc) – Công suất 6426 Mw nằm trên sông Hongsui.
Đập cao 216m và dài 849m. Đây là đập trọng lực bê tông cao nhất thế giới.8 Công trình thủy điện Longtan.2 Tổng quan và sự phát triển về biện pháp tổ chức thi công ở trong nước BTCT là loại vật liệu xây dựng chủ yếu của nước ta, được sử dụng trong công trình xây dựng cơ bản; công trình văn hóa, quốc phòng, dân sự. Ở Việt Nam, Bê tông cốt thép cũng được du nhập từ khoảng đầu thế kỷ XX để làm cầu, đập nước, cống và nhà cửa dân dụng công nghiệp. Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên, nhà máy công cụ số 1 Hà Nội là những công trình lớn bằng BTCT đầu tiên được xây dựng.
Sau đó nhiều công trình lớn lần lượt ra đời, Nhà máy thủy điện Thác Bà, cầu Thăng Long, nhà máy thủy điện Trị An, ống khói nhà máy nhiệt điện Phả Lại có chiều cao 200m là những công trình đáng được lưu ý. Nhiều khu nhà bê tông cốt thép đã ra đời ở thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn và khắp các địa phương. Hiện nay hầu hết các nhà nhiều tầng ở Việt Nam là kết cấu bê tông cốt thép.