chương 1 của Luật việc làm năm 2013 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam quy định: "Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm ". Khái niệm trên cho thấy các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm: + Những công việc được trả công bằng tiền hoặc hiện vật. + Những việc tự làm để thu lợi nhuận, thu nhập cho bản thân hoặc gia đình. Những việc làm tự phục vụ cho bản thân.
Theo xu hướng phát triển chung của xã hội, thời gian dành cho việc này ngày càng tăng và càng chiếm vị trí quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người.2 Thất nghiệp Thất nghiệp là hiện tượng một bộ phận của lực lượng lao động không có việc làm và đang tích cực tìm việc làm. Như vậy, những người không có nhu cầu làm việc hoặc không tìm việc làm là những người không thuộc lực lượng lao động. Thất nghiệp là vấn đề bức xúc mà tất cả các quốc gia đều phải đương đầu. Thất nghiệp ảnh hưởng rộng lớn đến tất cả các vấn đề kinh tế và xã hội.
Trước hết, thất nghiệp ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, làm giảm thu nhập và mức sống của dân cư, hạn chế tăng sản lượng quốc dân. Thất nghiệp, thiếu việc làm và thu nhập thấp còn dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội, ảnh hưởng tới trật tự an toàn xã hội. Các tệ nạn xã hội phát triển, an ninh sản xuất không bảo đảm lại kìm hãm việc thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển các ngành nghề mới.Cái vòng luẩn quẩn đó luôn néo giữ nông thôn trong vòng nghèo nàn và lạc hậu. * Thất nghiệp được chia làm 3 nhóm: 8 - Thất nghiệp tạm thời là do sự di chuyển không ngừng con người giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống.
Do sự di chuyển mà một số người tự nguyện thất nghiệp. Trình độ phát triển kinh tế xã hội càng cao thì mức độ cơ động và linh hoạt của lực lượng lao động càng cao. Con người có thể chuyển từ công việc này sang công việc khác dễ dàng hơn, hoặc chuyển từ vùng này sang lao động và sinh sống ở vùng khác. Vì thế thất nghiệp tạm thời có xu hướng ngày càng tăng.
- Thất nghiệp cơ cấu xảy ra do sự mất cân đối giữa cung và cầu đối về chuyên môn kỹ thuật, chuyên ngành mà người lao động được đào tạo so với nhu cầu của xã hội. - Thất nghiệp chu kỳ phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp. Nó gắn với giai đoạn suy thoái và đóng cửa chu kỳ kinh doanh. Trên thế giới, thất nghiệp chu kỳ vẫn diễn ra gắn với các cuộc khủng hoảng kinh tế, khi sản xuất đình trệ và công nhân không có việc làm, bị sa thải hàng loạt.
Trong những thời kỳ khủng hoảng kinh tế, nhiều công nhân không có việc làm lại trở về sống ở nông thôn, tạo thêm sức ép về việc làm và thu nhập cho lao động nông thôn - Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn do giảm tổng cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy thoái, dẫn đến giảm hoặc không tăng số việc làm. * Ảnh hưởng của thất nghiệp: Thất nghiệp làm cho một bộ phận của lực lượng lao động không được tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất và những giá trị tinh thần cho xã hội. Vì vậy, thất nghiệp ảnh hưởng tới mức sản lượng của một quốc gia. Thất nghiệp làm cho những người thất nghiệp và gia đình họ gặp khó khăn về kinh tế, họ càng khó khăn hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ giáo dục và y tế, sức khoẻ và trình độ hạn chế sẽ ảnh hưởng lâu dài đến năng lực làm việc của gia đình họ và từ đó ảnh hưởng đến xã hội.
Không có việc làm không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý của bản thân người thất nghiêp mà còn ảnh hưởng đến những người thân của họ. Từ những khó khăn trong cuộc sống và sự tổn thương về tâm lý làm cho người thất nghiệp dễ có những hành vi ảnh hưởng đến sự ổn định và an toàn xã hội. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác bừa bãi như phá rừng, đánh bắt hải sản bằng thuốc nổ và xung điện, khai thác vàng bạc, đá quý, thiếc, quặng sắt và than thổ phỉ.một cách tự do và bừa bãi làm huỷ hoại các 9 nguồn tài nguyên và huỷ hoại môi trường. Bên cạnh đó, thất nghiệp, thiếu việc làm và thu nhập thấp còn kéo theo rất nhiều những tệ nạn như buôn bán và sử dụng chất ma tuý, buôn lậu, mại dâm, trộm cắp.cùng với dòng người di cư tìm việc làm từ thành phố về mang theo những tệ nạn khác làm cho cuộc sống nông thôn không được bình yên, phá hỏng những thuần phong mỹ tục và truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động nói chung và lao động dân tộc thiểu số nói riêng. 2 Công tác giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số 1. Chủ trương, định hướng giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số 1.1 Chính sách giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số “Chính sách được hiểu là phương cách, đường lối hoặc phương hướng dẫn dắt hành động trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Chính sách là tập hợp các quyết sách của Chính phủ được thể hiện ở hệ thống quy định các văn bản pháp quy nhằm từng bước tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn, điều khiển nền kinh tế hướng tới những mục tiêu nhất định, đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế” (Phạm Vân Đình, 2009).
- Tác động của chính sách: Chính sách của Đảng và Nhà nước tác động rất lớn đến việc giải quyết việc làm cho lao động DTTS. Chính sách định hướng, giúp đỡ, hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động đặc biệt ưu tiên giúp lao động DTTS có điều kiện tốt nhất để học nghề, lập nghiệp, có việc làm ổn định. Trong thời gian qua một số chính sách có hiệu quả của nhà nước cho đồng bào DTTS đang được triển khai có kết quả rõ dệt như: Hỗ trợ đất sản xuất, vốn vay ưu đãi, hướng nghiệp nghề, giáo dục, Chương trình 134, 135, Đề án 1956, Nghị quyết 30a của Chính phủ. có tác động to lớn và lâu dài tới phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn vùng đồng bào DTTS.2 Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số Giải quyết việc làm là vấn đề hết sức cần thiết cho lao động DTTS, nhưng lao động phải có hiệu quả cao mới nâng cao được thu nhập và mức sống của người dân.
Vấn đề rất cần thiết là phải đào tạo, bồi dưỡng kiến thức văn hoá, khoa học kỹ thuật cho lao động trẻ ở vùng đồng bào DTTS bằng nhiều hình thức. Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá việc đào tạo bồi dưỡng nguồn lao động 10 cũng phải phù hợp với xu hướng phát triển hợp lý, những ngành có năng suất và hiệu quả cao sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Hơn nữa, khi thu nhập của dân cư càng tăng lên thì nhu cầu về các hàng hoá công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh hơn nhiều so với nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên hiện nay xu hướng này ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số diễn ra rất chậm chạp.
Điều đó càng tạo nên sức ép về lao động và việc làm tại đây.3 Tạo việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số Là cách thức tìm kiếm các phương án nhằm tăng cơ hội có việc làm cho lao động dân tộc thiểu số. Ở đây chính là những chương trình, kế hoạch, cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm tạo nhiều cơ hội cho lao động DTTS có điều kiện để học tập, học nghề và tiếp cận tìm kiếm việc làm. Trong đó cần chú ý đến các giải pháp chủ yếu như: Đào tạo nghề cho lao động DTTS; Thu hút vốn đầu tư phát triển các Khu kinh tế cửa khẩu, các khu, cụm công nghiệp; Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Khôi phục phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống của địa phương. Mục đính, mục tiêu giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số Đánh giá, phân tích thực trạng, kết quả các giải pháp giải quyết việc làm cho lao động DTTS tỉnh Lạng Sơn trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm giải quyết việc làm cho lao động DTTS trong điều kiện cụ thể của địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới.
Khái niệm giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số Điều 13, Chương 2 (việc làm) ộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994 qui định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. hái niệm này được vận dụng trong các cuộc điều tra về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và được cụ thể hoá thành ba dạng hoạt động sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền hoặt hiện vật. - Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân bao gồm: sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng, hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần. 11 - Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó bao gồm: sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý.
Theo khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Hai là, hoạt động đó phải đúng luật, không bị pháp luật cấm. Hai tiêu chí này có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động chỉ tạo ra thu nhập như vi phạm pháp luật như: trộm cắp, buôn bán ma tuý, mại dâm… không thể được công nhận là việc làm.