CHƯƠNG 1: ĐẶC TRƯNG KHAI THÁC CỦA TUYẾN ĐƯỜNG PHAN ĐĂNG LƯU – QUẬN BÌNH THẠNH – TP. HỒ CHÍ MINH 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Việt Nam - với đặc thù là một đất nước bị đô hộ hàng trăm năm, chúng ta khôi phục và phát triển đất nước từ việc góp nhặt, chắp vá những mảnh vụn còn sót lại sau chiến tranh. Vì vậy, hệ thống giao thông vận tải cũng không phải là ngoại lệ, đặc biệt với những thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,…việc tiếp quản và phát triển từ cơ sở hạ tầng cũ, từ quy hoạch cũ không phải là điều dễ dàng.
Đầu thế kỷ 20 người Pháp đã quy hoạch tổng thể thành phố Sài Gòn với quy mô 500 nghìn dân. Do đó, các quy hoạch về giao thông cũng chỉ đáp ứng đủ yêu cầu cho nửa triệu dân sinh sống. Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn lịch sử dân số của Sài Gòn đã tăng nhanh chóng. Mặc dù đã được đầu tư nâng cấp liên tục, hiện nay, tình trạng giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn yếu kém, không đáp ứng được nhu cầu giao thông của dân chúng; thể hiện cụ thể qua số lượng các vụ ùn tắc giao thông hàng ngày vào giờ cao điểm cũng như phần trăm những người tham gia giao thông sử dụng phương tiện công cộng.
Đặc điểm của giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh Sự phát triển của giao thông vận tải hiện nay ở các đô thị lớn ở Việt Nam nói chung và ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng gắn liền với ba đặc trưng cơ bản sau: Đặc trưng thứ nhất: Phương tiện cá nhân tăng nhanh mất kiểm soát Theo thống kê của Sở Giao thông vận tải TP. HCM, đến cuối năm 2015 toàn thành phố đã có hơn 7 triệu xe, khoảng 600.000 xe ô tô cá nhân và 6,4 triệu xe máy, bình quân gần 1 xe/người dân, tăng 1,4 lần so với năm 2010. [1] Trần Thị Minh Tâm Kỹ thuật XDCTGT – K22.2 Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật 14 Đại học Giao thông vận tải Hình 1.1: Số liệu xe tham gia giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh Trái ngược với sự gia tăng một cách chóng mặt về số lượng phương tiện cá nhân, thì diện tích dành cho mạng lưới đường bộ ở thành phố vẫn không được mở rộng nhiều. Điều này cho thấy thực trạng đô thị hóa quá nhanh, quy hoạch dân cư rồi mới đến quy hoạch giao thông,…đang là một nghịch lý lớn vẫn tồn tại ở thành phố Hồ Chí Minh.
Đặc trưng thứ hai: Kết cấu hạ tầng phát triển thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu giao thông. Tính đến hết năm 2015, thành phố Hồ Chí Minh có tổng chiều dài đường giao thông là 3.688 km (không kể những tuyến đường quá nhỏ và hệ thống đường hẻm), diện tích mặt đường là 27,6 triệu m2; mật độ đường giao thông so với diện tích thành phố chỉ mới đạt 1,76km/km2, mật độ 0,5km/1000 dân, tập trung chủ yếu ở các quận nội thành như quận 1, 3 và quận 5 với mật độ từ 9,4 - 13,6km/km2, diện tích đất dành cho giao thông trên diện tích đất đô thị đạt khoảng 17,4 đến 21,4% song cũng chỉ đạt 0,31km/1000 dân do mật độ dân số quá cao; Ở các quận cũ khác như quận 4, quận 6, quận 8, quận 10, quận 11, quận Bình Thạnh, quận Phú Nhuận, quận Tân Bình diện tích đất dành cho giao thông trên diện tích đất đô thị chỉ đạt khoảng 5,2-15,0% và 0,24 km/1000 dân là quá thấp; trong khi đó, ở các huyện ngoại thành thì mật độ đường chỉ đạt từ 1,15 - 2,76km/km2. Ở các quận mới như quận 2, quận 7, quận 9, quận 12 và các huyện ngoại thành diện tích đất dành cho giao thông còn thấp hơn nữa chỉ chiếm khoảng 0,2-3,1% và 0,84 km/1000 dân. Trần Thị Minh Tâm Kỹ thuật XDCTGT – K22.2 Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật 15 Đại học Giao thông vận tải Nhìn chung mạng lưới đường bộ của thành phố Hồ Chí Minh phát triển mất cân đối và chưa được phân cấp theo chức năng.
Trừ một vài khu vực được quy hoạch cụ thể từ trước, đa số đều phát triển một cách tùy tiện thể hiện qua các khía cạnh như: kích thước, khổ đường, lộ giới, vỉa hè,…rất khác nhau ở từng khu vực: - Bề rộng mặt đường: Phần lớn các đường đều hẹp, chỉ có khoảng 14% số con đường có lòng đường rộng trên 12m để có thể tổ chức vận chuyển hành khách bằng xe buýt được thuận lợi; 51% số con đường có lòng đường rộng từ 7- 12m chỉ có thể cho các ô tô con trong đó có xe mini-buýt lưu thông; 35% số con đường còn lại có lòng đường rộng dưới 7m. - Phân làn đường: Nếu căn cứ theo quy định - Một làn đường dành cho xe ô tô phải có chiều rộng 3,75m thì hệ thống đường giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh có tới hơn 1/3 trong tổng số 3584 tuyến đường lớn nhỏ chỉ đủ để phân thành đường một làn xe cơ giới, hoặc đổi thành đường 1 chiều. Có khoảng 500 tuyến rộng hơn 12m đủ để phân thành đường 2 chiều với mỗi chiều bao gồm làn dành cho xe cơ giới và làn dành cho xe gắn máy. Phần lớn các tuyến còn lại ở trong tình trạng lỡ cỡ: để 1 làn thì thừa mà phân thành 2 làn xe thì thiếu.
- Kết cấu mặt đường: Hiện nay phần lớn đường giao thông trong thành phố đã được nâng cấp giúp việc giao thông thuận lợi, giảm bụi bẩn và tiếng ồn. 58% các đường đã được trải bê tông nhựa nóng, 39% trải bê tông nhựa thường, chỉ có 3% là đường cấp phối. Tuy nhiên, tình trạng đào xới liên tục trên đường do việc sửa chữa, lắp đặt các công trình ngầm như cáp quang, ống cấp nước, mạng dây điện, điện thoại, hệ thống ống cấp gas,.làm cho chất lượng mặt đường xuống cấp rất nhanh, tình hình giao thông bị cản trở; nạn kẹt xe, tai nạn phổ biến tại các con đường này vào giờ cao điểm. Hiện nay thành phố vẫn chưa giải quyết được tình trạng ngập úng vào mùa mưa và triều cường.
Đây là nguyên nhân chủ yếu là hư hỏng mặt đường. Trần Thị Minh Tâm Kỹ thuật XDCTGT – K22.2 Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật 16 Đại học Giao thông vận tải - Vỉa hè: Hầu hết các tuyến đường ở thành phố Hồ Chí Minh luôn ở trong tình trạng “ở đâu có vỉa hè thì ở đó bị chiếm dụng”. Vỉa hè ngang nhiên bị biến thành nơi kinh doanh buôn bán, đậu xe, hàng rong,.người đi bộ bất đắc dĩ bị đẩy xuống lòng đường, gây cản trở cho người tham gia giao thông trong việc quan sát các biển báo, giao thông thường xuyên ở trong tình trạng ùn tắc lại càng nghiêm trọng hơn. - Nút giao: thành phố có trên 1440 nút giao cắt chủ yếu ở dạng giao nhau đồng mức gồm 2 ngã bảy, 8 ngã sáu, 12 ngã năm, 961 ngã tư và 457 ngã ba, trong đó có khoảng 120 nút quan trọng thuộc 75 đường phố chính và các trục giao thông đối ngoại, năng lực thông qua thấp và đa số đều bị ách tắc giờ cao điểm hay khi có sự cố.
Hiện chỉ có một số ít nút giao thông mới xây dựng là khác mức, chủ yếu ở các cửa ngõ thành phố. - Hệ thống vạch sơn - biển báo giao thông: Nhiều tuyến đường ở thành phố xuất hiện hàng loạt biển báo giao thông cũng như các vạch sơn bất hợp lý, rối rắm và trở thành cái “bẫy” đối với người điều khiển xe cộ. Thay vì phát huy tác dụng giúp người tham gia giao thông được an toàn, thuận tiện thì hệ thống vạch sơn - biển báo đang là nỗi ám ảnh với mỗi người dân thành phố khi ra đường. - Hệ thống giao thông tĩnh của thành phố còn chưa được chú trọng nhiều, phần lớn các phương tiện đỗ xe ngay trên lòng, lề đường gây cản trở cho giao thông.
Bất cập lại càng thêm bất cập khi ga đường sắt cũng như sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất nằm ngay giữa lòng thành phố: - Hiện chưa có đường sắt nội ô như monorail hay tàu điện ngầm, xe điện. Đường sắt Bắc - Nam chạy qua khu vực nội thành thành phố không những không giúp giải quyết tình hình giao thông của thành phố mà còn gây ra tắc nghẽn giao thông do giao cắt với đường phố. Trần Thị Minh Tâm Kỹ thuật XDCTGT – K22.2 Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật 17 Đại học Giao thông vận tải - Sân bay quốc tế thu hút lưu lượng giao thông cực lớn mỗi ngày gây trở ngại cho giao thông thành phố, dễ ùn tắc và tai nạn giao thông; ngoài ra còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đô thị. Đặc trưng thứ ba: Ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế Ý thức chấp hành Luật của người dân chưa cao, thiếu tự giác, thói quen tùy tiện của một bộ phận nhân dân vẫn còn khá phổ biến.
Tình trạng sử dụng phương tiện phóng nhanh, vượt ẩu, lấn chiếm làn đường, không chấp hành tín hiệu đèn giao thông, chở quá số người quy định hay xe chở quá tải vẫn thường xuyên xảy ra. Tình trạng buôn bán, lấn chiếm lòng, lề đường còn khá phổ biến. Ý thức tham gia giao thông của người dân đang góp phần làm xấu xí thêm bức tranh đô thị của thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy việc xây dựng văn hóa giao thông - nâng cao ý thức chấp hành pháp luật là một việc làm mang tính cấp bách, góp phần quan trọng trong việc kiềm chế và giảm thiểu tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông.
Vận tải hành khách công cộng Để giải quyết bài toán về giao thông đô thị, vận tải hành khách công cộng được đề cập như một giải pháp tối ưu nhất. Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, rõ ràng không thể phủ nhận vai trò tích cực của xe buýt trong việc giảm ùn tắc, tai nạn giao thông và góp phần hạn chế phương tiện giao thông cá nhân. Xuất phát từ thực trạng trên, năm 2003 ghi nhận những động thái đầu tư rất tích cực và cần thiết của UBND thành phố Hồ Chí Minh cho hệ thống vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt của thành phố như: chính sách khuyến khích đầu tư phương tiện, hỗ trợ lãi suất vay khi mua xe mới được áp dụng nên số lượng xe buýt tăng lên 2.434 xe các loại, trong đó 1.018 xe buýt được đóng mới phục vụ hoạt động vận tải hành khách và chính sách trợ giá cho hoạt động vận tải hành khách bằng xe buýt.