Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục các bảng biểu, sơ đồ đồ thị, nội dung của luận văn gồm 3 chương: CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ VÀ THU TỪ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THU TỪ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG THU TỪ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ VÀ THU TỪ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về dịch vụ của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về dịch vụ Khi nghiên cứu về dịch vụ, dựa vào tính chất của dịch vụ đã nêu lên khái niệm dịch vụ như sau: Dịch vụ là hoạt động của con người được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được. Thứ nhất, dịch vụ là một sản phẩm, là kết quả của một quá trình lao động và sản xuất nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người. Thứ hai, khác với hàng hoá là hữu hình, dịch vụ là vô hình và không thể lưu trữ được. Tính vô hình là đặc điểm chính để phân biệt sản phẩm dịch vụ với sản phẩm của ngành sản xuất vật chất khác trong các ngành kinh tế.
Tính vô hình thể hiện ở chỗ quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ diễn ra đồng thời. Vì dịch vụ là vô hình, nên khuôn khổ pháp lý và chính sách để điều chỉnh rất khó xác lập chuẩn xác. Do vậy, luật pháp các nước đều ở khuôn khổ mở. Dịch vụ bao gồm dịch vụ tài chính và dịch vụ ngân hàng.2 Dịch vụ ngân hàng Có hai quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng.
Quan điểm thứ nhất: những hoạt động ngân hàng không thuộc huy động vốn tiền gửi và cho vay mới gọi là dịch vụ ngân hàng như: chuyển tiền, thu hộ, uỷ thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán…Quan điểm thứ hai: tất cả hoạt động ngân hàng phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng đều là dịch vụ ngân hàng. Theo quan điểm này, dịch vụ ngân hàng bao gồm 11 loại hình như sau: nhận tiền gửi, cung cấp các tài khoản giao dịch, quản lý tiền mặt, trao đổi ngoại tệ (ngoại hối), dịch vụ về tín dụng (chiết khấu thương phiếu, cho vay tài trợ dự án, cho vay tiêu dùng), dịch vụ uỷ thác, cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 thuê tài chính, tư vấn tài chính, các dịch vụ bảo hiểm, môi giới đầu tư chứng khoán, dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp, các dịch vụ khác có liên quan. Theo một số tác giả khác, dịch vụ ngân hàng được hiểu theo hai khía cạnh. Theo nghĩa rộng, toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng thanh toán, ngoại hối… của hệ thống ngân hàng đều là hoạt động cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế.
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng của định chế tài chính trung gian là huy động vốn và cho vay.3 Sự khác biệt của dịch vụ ngân hàng so với các dịch vụ khác Ngoài những đặc điểm giống các loại hình dịch vụ khác, ngân hàng có một số đặc điểm đặc thù của ngành như sau: Dịch vụ ngân hàng có thể sử dụng nhiều lần trong một đời người và mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng là mối quan hệ lẫn nhau. Vì vậy, việc gắn bó với một ngân hàng rất có ý nghĩa với khách hàng cũng như với ngân hàng. Hoạt động ngân hàng dựa trên cơ sở là đồng tiền và quyền sử dụng đồng tiền. Chất liệu này chứa đựng cả yếu tố tâm lý lẫn yếu tố xã hội, khiến cho hành vi mua hàng của ngân hàng trở nên nhạy cảm hơn, kết quả dịch vụ càng khó dự đoán.4 Đặc điểm dịch vụ ngân hàng Thuộc tính dịch vụ: bao gồm các tính chất như tính vô hình, tính không thể tách biệt, tính không ổn định và khó xác định, tính phức tạp, tính dễ bị sao chép và tính trọn gói.
Tính vô hình: tính vô hình của dịch vụ thể hiện ở chỗ dịch vụ “là những thứ mà khi đem bán không thể rơi vào chân bạn”. khách hàng chỉ nhận được sản phẩm dịch vụ thông qua giao tiếp và chỉ khi đánh giá được chất lượng dịch vụ sau khi “đã mua” và “đã sử dụng”. Tính không thể tách biệt: thể hiện ở tính quy trình cung ứng dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời, có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình này. Do vậy, không thể sản xuất dịch vụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 hàng loạt và lưu trong kho sau đó mới tiêu dùng, mà sản phẩm được cung ứng trực tiếp cho khách hàng khi và chỉ khi có nhu cầu.
Tính không ổn định và khó xác định: dịch vụ ngân hàng được cấu thành bởi nhiều nhân tố khác nhau như trình độ của đội ngũ nhân viên, kỹ thuật công nghệ… Chất lượng dịch vụ cung cấp lại phụ thuộc chặt chẽ vào cá nhân thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng…), hơn nữa, đối với cùng một cá nhân cung cấp dịch vụ thì chất lượng dịch vụ cũng thay đổi theo thời gian. Chính điều này lại tạo nên tính không ổn định và khó xác định về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Tính phức tạp: tính phức tạp của dịch vụ thể hiện ngay chính tên gọi của nó. Thông thường, đối với loại hàng hoá khác, khi nghe tên gọi chúng ta có thể hình dung được tính năng, công dụng của sản phẩm đó.
Tuy nhiên, dịch vụ ngân hàng thì hoàn toàn khác, hầu hết tên dịch vụ ngân hàng là những thuật ngữ ngân hàng, do đói đòi hỏi người sử dụng cần có sự hiểu biết nhất định về hoạt động ngân hàng. Tính dễ bị sao chép: dịch vụ ngân hàng không được bảo hộ cho những phát minh sáng chế. Điều này, làm cho dịch vụ phát triẻn rất nhanh nhưng chu kỳ sống của sản phẩm trở nên ngắn hơn. Do đặc tính này, mà tính cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng rất khốc liệt.
Tính trọn gói: khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng không đơn giản chỉ là giao dịch một lần rồi kết thúc, mà là một chuỗi các giao dịch. Đặc tính này tạo điều kiện cho ngân hàng gia tăng việc bán chéo sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến khách hàng. Thuộc tính tài chính: là tính riêng tư, bảo mật và sự nhạy cảm về các thông tin liên quan đến tài chính của một cá nhân, một tổ chức bất kỳ. Thuộc tính này được xem là một trong những trở ngại hay rào cản lớn nhất của các tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng trong quá trình hình thành, cung ứng, khai thác và quản lý các sản phẩm.5 Phân loại dịch vụ ngân hàng Dựa vào tính chất tín dụng: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Dịch vụ tín dụng: gồm những dịch vụ liên quan đến mối quan hệ giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả gốc và lãi theo thời hạn đã thỏa thuận như là dịch vụ huy động vốn, cho vay, bảo lãnh… Dịch vụ phi tín dụng: là những dịch vụ ngân hàng không bao gồm dịch vụ tín dụng như dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, đại lý, thẻ, tư vấn, bảo hiểm, bất động sản…, được ngân hàng cung cấp tới khách hàng để đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định.
Dựa vào đối tượng cung cấp dịch vụ: Dịch vụ ngân hàng do ngân hàng cung cấp: là dich vụ ngân hàng do chính ngân hàng cung cấp nhằm mục tiêu lợi nhuận. Dịch vụ ngân hàng do các tổ chức tài chính phi ngân hàng cung cấp: việc thực hiện cung ứng các dịch vụ ngân hàng do các công ty tài chính, bảo hiểm… cung cấp cho khách hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận Dựa vào đối tượng thụ hưởng dịch vụ: Dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng cá nhân: séc, thẻ tín dụng, ngân hàng tại nhà, vay trả góp, bảo hiểm, dịch vụ két sắt, dịch vụ bảo quản và ký gửi… Dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng doanh nghiệp: tiền gửi thanh toán, bảo lãnh, chuyển tiền, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, đầu tư, bảo hiểm, bao thanh toán… Dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng là tổ chức trung gian tài chính khác: dịch vụ đầu tư, thanh toán bù trừ, kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh vàng bạc đá quý, mua bán nợ giữa các ngân hàng, cho vay liên ngân hàng… Dựa vào Bảng cân đối tài sản: Dịch vụ nội bảng: nhận tiền gửi, cho vay, đầu tư chứng khoán. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.