Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thu nhập và nâng cao thu nhập Chương 2: Thực trạng thu nhập hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 9 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU NHẬP VÀ ĐÓI NGHÈO 1. Về đói nghèo và chuẩn đói nghèo Đói nghèo là một khái niệm mang tính tương đối, phụ thuộc vào điề u kiện lị ch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của từng quốc gia, vùng miền và khu v ực trên thế giới. Hiện nay, khi đánh giá về đói nghèo người ta không chỉ quan tâm đến vấn đề nghèo lương thực mà khía cạnh nghèo phi lương thực như các dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục, sự bình đẳng trong vi ệc tiếp cận các thành tựu phát triển xă hội và tăng trưởng kinh tế…cũng được xem xét. Theo đó,khi đưa ra chuẩ n nghèo hiệ n nay nhi ều quốc gia trên thế giới bên cạnh việc sử dụng phương pháp tính toán nhu cầu chi tiêu còn xem xét cả yếu tố tài sản như nhà ở, đất đai, công cụ sản xuất.
Cách tiếp cận mới này cho phép nhìn nh ận sâu s ắc hơn mối quan hệ nhân quả giữa các tiêu chí xác định nghèo, từ đó có thể đề ra chiến lượ c giảm nghèo toàn diện hơn trên cơ sở đầu tư vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, mạng lưới an sinh xã hội cho những người không có khả năng tham gia vào tăng trưởng. Dưới đây là một số quan niệm về đói nghèo được đưa ra trong ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam 1. Quan niệm về đói nghèo trên thế giới Thứ nhất, định nghĩa về đói nghèo được đưa ra tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á- Thái Bình Dương, tại Băng Cốc, Thái Lan do ESCAP t ổ chức vào tháng 3 năm 1993: Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu c ầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục tập quán ấy được xã hội thừa nhận. Thứ hai, định nghĩa về đói nghèo được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội ở Copenhaghen Đan Mạch năm 1995: Người nghèo là tất cả những ai có thu nhập thấp hơn dưới 1 USD m ỗi ngày cho mỗi người, s ố tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại.
Thứ ba, theo Ngân hàng Thế giới: Đói nghèo là sự thiếu h ụt không thể chấp nhận được trong phúc lợi xã h ội của con người, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học 10 và xã hội học. Thiếu hụt về sinh lý học là không đáp ứng nhu cầu vật chất và sinh học như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục và nhà ở. Thiếu hụt về mặt xã h ội liên quan đến khái niệm bình đẳng, rủi ro và được tự chủ, tôn trọng trong xã hội. Đói nghèo cũng có thể được định nghĩa phân thành đói nghèo tuyệt đối và đói nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối là những người nghèo số ng ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là nh ững người ph ải đấu tranh để sinh tồn trong các điều kiệ n thiếu th ốn tồ i tệ. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấ p thông tin không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi v ật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã h ội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Khái niệm nghèo tương đói này được xác định trong một s ố xã hội được coi là thịnh vượng.
Hiện nay, có những quan niệm mới về đói nghèo đó là không chỉ dự a vào thu nhập hay chi tiêu mà còn quan tâm đến khía cạnh cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Chẳng hạn như định nghĩa về đói nghè o mới đây của Tổ chức Lao động Qu ốc tế (ILO): Đói nghèo là những người không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu; có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát tri ển của cộng đồng. Cũng theo những thay đổi về mặt nhận thức khi đánh giá đói nghèo, hiện nay chỉ số nghèo khổ đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) đã được sử dụng rộng rãi. Chỉ số phát triển đa chiều phản ánh tất cả các phạm vi tác động đến đói nghèo bao gồm một loạt các yếu tố quyết định hay tình trạng túng thiếu ở c ấp độ gia đình từ giáo dục, y tế, tài sản và dịch vụ như nước s ạch, vệ sinh và năng lượng… khi đánh giá đói nghèo.
Điều đó cho thấy chỉ số này sẽ phản ánh tình trạng nghèo khổ một cách sâu sắc đa chiều hơn chứ không đơn thuần chỉ dựa vào thu nhập. Nếu theo cách tính toán của chỉ số MPI hi ện nay thế giới vẫn còn khoảng 1,7 tỷ người chiếm 21% dân s ố thế gi ới sống trong nghèo kh ổ. Trong đó 1/2 người nghèo sống ở Nam Á (51% tương đương với 844 tri ệu người) và 1/4 người nghèo sống ở châu M ỹ (28% - tương đương 458 triệu người)… Bên cạnh đó, quan niệm nghèo bền vững cũng là một vấn đề được quan tâm đặc biệt trong công cu ộc giảm nghèo hiện nay. Tỷ lệ tái nghèo, t ỷ lệ những hộ cận nghèo còn khá cao, những giải pháp giảm nghèo nhìn chung v ẫn mang tính ngắn 11 hạn…Vì thế quan ni ệm gi ảm nghèo bền vững nhằm hướng đến mục tiêu và những giải pháp giả m nghèo mang tính b ền vững, duy trì kết quả lâu dài.
Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam Nhìn chung, quan ni ệm về đói nghèo ở Việt Nam khá tương đồng với những định nghĩa về đói nghèo được thừ a nhận rộng rãi hiện nay trên thế giới. Việt Nam đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vự c Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993. Tương tự định nghĩa đói nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện. Thu nhập hạ n ch ế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài s ản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biế n bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định.
Như vậy, đói nghèo ở Việt Nam không ch ỉ được nhìn nhận ở phương diện thiếu th ốn những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn mặc, giáo d ục, y tế mà ở cả phương diện thiếu những cơ hội tạo thu nhập, dễ bị tổn thương, ít có khả năng tham gia vào việc ra các quyết định liên quan đế n bản thân. Các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo 1. Các tiêu chí đánh giá đói nghèo trên thế giới Thứ nhất: Là tiêu chí phát triển con người (HDI) của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP). Tiêu chí này dựa vào một số chỉ tiêu cơ bản như tuổi thọ dân cư, tình trạng biế t chữ của người lớn, thu nh ập bình quân trên đầu người trong năm để đánh giá mức s ống của người dân.
Thứ hai: Là tiêu chí đánh giá nghèo theo đường nghèo: Theo đó Ngân hàng thế giới phân chia đường đói nghèo theo hai mức: đường đói nghèo lương thực thự c phẩm và đường đói nghèo chung. Đường nghèo về lương thực thực phẩm được xác định dựa trên lượng calo tối thiểu cho một người trên một ngày. M ức calo tối thiểu được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và một số tổ chức khác xác định rộng rãi hiện nay là 2100kalo/người/ngày. Tuy nhiên, khi áp dụng thự c tế mỗi nước sẽ có những mức điều chỉnh phù h ợp.
Chẳng hạn mức kalo tối thiểu của 1 người/ngày ở Trung Qu ốc là 2150kalo/ngày/người, ở Thái Lan là 1978 kalo/người/ngày và Việt Nam là 2100 kalo/người/ngày… 12 Thứ ba: Là tiêu chí đánh giá nghèo theo mứ c chi tiêu tố i thiểu cho các nhu cầu cơ bản của con người. Trong Chương trình phát triển Liên hiệp quốc năm 1997, Ngân hàng thế giới đã đưa ra mức chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo sức mua tương đương của địa phương so với đôla thế gi ới để thỏa mãn nhu cầu sống tổng quát cho nghèo khổ tuyệt đối là 1 USD; và mức 2 USD/người/ngày trở xuống là nghèo cho các nước châu M ỹ la tinh và Carribean; 4USD /người/ngày trở xuống cho những nước Đông Âu và 14-40USD/người/ngày cho các nước công nghiệp phát triển. Từ năm 2005, chuẩn nghèo mới mà Ngân hàng thế giới và Qu ỹ tiền tệ quốc tế (IMF) áp dụng đối với các nước đang phát triển là 1,25 USD/người/ngày cho chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo s ức mua tương đương (PPPs) thay cho đường chuẩn nghèo trước đó vẫn dùng là mức 1USD/người/ngày theo mức giá năm 1993. Thứ tư: Là tiêu chí đánh giá nghèo theo thu nhập bình quân đầu người.
Tại Đại hội lần thứ II của Ngân hàng thế giới đưa ra chuẩn nghèo chung cho thế giới là mức thu nhập bình quân dưới 370USD/người/năm. Bên cạnh đó khi sử dụng chỉ tiêu này các qu ốc gia th ường xác định thu nhập bình quân của hộ gia đình so sánh với thu nhập bình quân đầu người của quốc gia. Người có thu nh ập bình quân đầu người ít hơn 1/2 hoặc 1/3 thu nhập bình quân c ủa quốc gia được coi là nghèo. Trên thực tế nhiều quốc gia thường áp dụng kết hợp 1 hay nhiều chỉ tiêu để đánh giá đói nghèo nhằm mang l ại kết quả chính xác và khách quan hơn.
Tiêu chí đánh giá đói nghèo ở Việt Nam Thời gian qua, chuẩn nghèo của Vi ệt Nam đã có những thay đổi đáng kể nhằm phù hợp hơn với tình hình phát triển của Việt Nam và hướng đến tiếp cận gần hơn chuẩn nghèo của thế giới. Dưới đây là chuẩn nghèo Vi ệt Nam thay đổi cụ thể qua từng giai đoạn: Bảng 1.