phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về dịch vụ phi tín dụng thể nhân tại các NHTM Chƣơng 2: Thực trạng thu từ dịch vụ phi tín dụng thể nhân tại ngân hàng TMCP Ngoại thƣờng Việt Nam – chi nhánh Sở iao ịch giai đoạn 2015 – 2017. Chƣơng 3:Một sô giải pháp góp phần tăng thu dịch vụ phi tín dụng thể nhân tại ngân hàng TMCP Ngoại thƣờng Việt Nam – chi nhánh Sở iao ịch. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG THỂ NHÂN TẠI CÁC NHTM 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG THỂ NHÂN TẠI CÁC NHTM 1.
Khái niệm dịch vụ phi tín dụng thể nhân. Kh i niệm d ch v ngân hàng th ng i. “Quản trị ngân hàng thƣơng mại” của Peter S. Rose cho rằng “ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất k một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế (Phan Thị Cúc, 2008, i o trình nghiệp v ngân hàng th ng i, Hà Nội: Nhà xuất bản thống kê).
Theo Luật các tổ chức tín dụng VN có quy định dịch vụ ngân hàng nhƣng không nêu ra định nghĩa mà đƣa ra cụm từ “Hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” đƣợc bao gồm các nội dung: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, tại khoản 1 và khoản 7, điều 20 “Là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”. Theo Chƣơng 3 của Luật tổ chức tín dụng này đã nêu các điều khoản về hoạt động ngân hàng đƣợc chia theo 4 mảng lớn: Huy động vốn, tín dụng, thanh toán và ngân quỹ và các hoạt động khác. Đặc điểm dịch vụ của Ngân hàng thƣơng mại – Thứ nhất: Qu trình cung ứng ch v và tiêu ùng ch v iễn ra đồng thời Quá trình cung cấp và tiêu dùng VNH đƣợc diễn ra đồng thời, đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng dịch vụ. Đồng thời mỗi dịch vụ lại tuân theo một quy trình nhất định không thể chia cắt đƣợc thành các loại dịch vụ khác nhau nhƣ quy trình thẩm định, quy trình cho vay…Điều này làm cho VNHkhông có dịch v ụ dở dang, dịch vụ lƣu kho mà đƣợc cung cấp trực tiếp cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu.
o đó, các NH thƣờng tạo dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ với khách hàng và các NH khác bằng cách nâng cao 8 chất lƣợng dịch vụ cung ứng phát triển hoạt động chăm sóc khách hàng trong đội ngũ nhân viên NH và hiện đại hóa hệ thống cung ứng tạo tính đặc biệt của hoạt động dịch vụ này. – Thứ hai: Tính hông n đ nh và hó x c đ nh Chất lƣợng dịch vụ mang tính không đồng nhất. ịch vụ gắn chặt với ngƣời cung cấp dịch vụ. Chất lƣợng phụ thuộc chặt chẽ vào ngƣời thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng…).
Hơn nữa đối với cùng một cá nhân cung ứng dịch vụ thì chất lƣợng dịch vụ đôi khi cũng thay đổi theo thời gian. – Thứ ba: Tính hông l u giữ đ ợc Các dịch vụ ngân hàng của NHTM mang tính vô hình, do vậy cũng không thể lƣu kho đƣợc. Trong khi đó nhu cầu dịch vụ thƣờng giao động lớn có thời điểm nhu cầu tăng đột biến, song các NH cũng không thể sản xuất sẵn rồi đem cất trữ. Ví dụ, dịch vụ thanh toán và chuyển tiền tại thời điểm cuối năm là rất lớn nhƣng các NH phải tăng cƣờng phƣơng tiện cũng nhƣ nguồn nhân lực để đảm bảo thực hiện các giao dịch hiệu quả nhất.
Chính vì vậy chi phí dịch vụ ngân hàng tƣơng đối cao. – Thứ t : D ch v mang tính vô hình Đây chính là đặc điểm chính để phân biệt dịch vụ ngân hàng với các dịch vụ của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân. dịch vụ ngân hàng không thể nhìn thấy đƣợc, cảm nhận đƣợc, nghe đƣợc trƣớc khi mua chúng nhƣ bất cứ dịch vụ vẫn đƣợc cung cấp. Khách hàng khi đến với NH không thể biết chắc chắn số tiền của mình có đƣợc an toàn hay không? Số tiền thanh toán cho khách hàng có đúng hẹn hay không? o vậy, để khắc phục đặc điểm này thì trong kinh doanh NH phải dựa trên cơ sở lòng tin.
Hoạt động của NH phải hƣớng vào việc cũng cố và tạo ra lòng tin đối với khách hàng khi sử dụng dịch vụ đối với khách hàng bằng cách nâng cao chất lƣợng dịch vụ cung ứng, tăng tính hữu hình của dịch vụ, quảng cáo tăng hình ảnh của NH, uy tín, tạo điều kiện để khách hàng tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho NH. hân lo i d ch v của NHTM. *Căn cứ theo tính chất ch v thì ch v ngân hàng đ ợc phân thành h i lo i: D ch v tín ng N và ch v phi tín ng N. 9 Quan hệ tín dụng thể hiện sự vay mƣợn, là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị tài sản từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định trên cơ sở tín nhiệm ( tin tƣởng) ngƣời sử dụng tài sản hiệu quả để có khả năng hoàn trả một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Nhƣ vậy, phạm trù tín dụng gắn với chuyển nhƣợng một lƣợng tài sản có ba đặc điểm chính là: tính tạm thời (tính thời hạn), tính hoàn trả với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu và tính chất tin tƣởng ngƣời sử dụng tài sản có khả năng hoàn trả đúng hạn. Ngày nay, khi thừa vốn tạm thời thì ta đầu tƣ ( cho vay) lấy lãi và khi thiếu hụt tạm thời thì ta đi vay, điều này làm phát sinh quan hệ tín dụng trực tiếp. Tuy nhiên, do có nhiều hạn chế trong quan hệ tín dụng trực tiếp, nhƣ ngƣời dƣ thừa và thiếu hụt vốn không gặp nhau về mặt không gian, thời gian, khối lƣợng, loại tiền, lãi suất và đặc biệt là độ tin cậy lẫn nhau, khiến cho tín dụng trực tiếp không thể phát triển đƣợc. Để chắp nối nhu cầu đầu tƣ và nhu cầu đi vay trong nền kinh tế, thì cần thiết phải có một ngƣời thứ ba đứng ra huy động toàn bộ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, trên cơ sở vốn huy động đƣợc cấp tín dụng cho những ngƣời có nhu cầu cần vốn tạm thời.
Thực hiện chức năng trung gian này chính là các tổ chức tín dụng, mà trong đó chủ yếu là các NHTM. Nhƣ vậy ngân hàng thực hiện chức năng “luân chuyển vốn” giữa các chủ thể khác trong nền kinh tế; thực hiện chức năng này, ngân hàng giữ vai trò là ngƣời đi vay ( con nợ) và vai trò là ngƣời cho vay (chủ nợ). Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà ngƣời tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tƣ vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Từ những phân tích trên có thể định nghĩa: Cấp tín dụng của ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Trong thực tế, chúng ta thƣờng nhầm lẫn cho rằng hoạt động tín dụng và hoạt động cho vay là một. Thực ra không phải nhƣ vậy, theo định nghĩa trên thì hoạt động tín dụng của ngân hàng phong phú và đa dạng hơn nhiều, hay nói cách khác cho vay chỉ một hình thức của tín dụng ngân hàng. Nhƣ vậy, nội dung tín dụng là rộng hơn nội dung cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng, thì cho vay là hoạt 10 động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các ngân hàng. Vì vậy,thuật ngữ tín dụng đƣợc hiểu theo nghĩa rộng khái quát ở trên hoặc theo nghĩa hẹp là cho vay.
– ịch vụ phi tín dụng ngân hàng: Đó là các dịch vụ gắn liền với việc thu phí do các NHTM thực hiện, thông qua việc cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân nhằm thu đƣợc lợi nhuận, điển hình cho V này là V thanh toán, V bảo lãnh, dịch vụ ngân hàng điện tử, V kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc đá quý… *Căn cứ theo c ch thức cung cấp ch v có th chi ch v ngân hàng thành 2 lo i: – ịch vụ ngân hàng bán buôn; ịch vụ ngân hàng bán lẻ: Xuất phát từ cách hiểu truyền thống trong lĩnh vực thƣơng mại hàng hóa, bán buôn là hình thức mua bán hàng hóa thông qua trung gian – đại lý (có thể có nhiều cấp trung gian, đại lý…)để bán với khối lƣợng lớn mà không bán nhỏ lẻ, trực tiếp cho ngƣời sử dụng. Ngƣợc lại, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là hình thức bán hàng mà ngƣời bán trực tiếp cho ngƣời sử dụng, ngƣời tiêu dùng. Các dịch vụ ngân hàng hiện nay bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau nhƣ thanh toán, quản lý đầu tƣ ủy thác… o vậy, việc đƣa ra một số tiêu chí cụ thể để xác định chính xác đối với các loại hình dịch vụ, những V nào thuộc bán buôn, những V nào thuộc bán lẻ là điều rất khó. Tuy nhiên, có thể dựa vào những đặc trƣng chung và tiêu biểu, tƣơng tự nhƣ bán buôn, bán lẻ các hàng hóa thông thƣờng khác để nhận diện và phân loại.
Với cách thức nhƣ vậy, có thể nói “dịch vụ ngân hàng bán buôn là cách thức bán thông qua các trung gian tài chính (các NHTM, các quỹ…)hoặc thông qua thị trƣờng tài chính (nhƣ thị trƣờng tiền tệ liên NH để cho vay, thanh toán bù trừ…) và đối với các công ty, tập đoàn kinh tế lớn với những gói V giá trị lớn”. Và dịch vụ ngân hàng bán lẻ đƣợc hiểu là “những hình thức bán trực tiếp đến các cá nhân, gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa và một số gói V nhỏ lẻ đối với các công ty, tổ chức kinh tế lớn”.