Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. Bao gồm: lý thuyết nền trong nghiên cứu, tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về sự hài lòng. Trên cơ sở đó, đề xuất mô hình nghiên cứu cho trường hợp của đề tài. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện nghiên cứu cho đề tài cũng được trình bày trong chương này, bao gồm: quy trình nghiên cứu, thảo luận nhóm (thiết kế nghiên cứu và kết quả) và thiết kế điều tra khảo sát.
Lý thuyết nền Các lý thuyết nền về nhu cầu của nhân viên thường được sử dụng làm cơ sở xây dựng chiến lược nâng cao sự hài lòng của nhân viên. Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow (1943), thuyết ERG của Alderfer (1969), lý thuyết hai nhân tố của Hertzberg và cộng sự (1959), Thuyết X và Thuyết Y của McGregor (1960), thuyết công bằng của Adams (1963), và lý thuyết kỳ vọng của Vroom (1964) làm nền tảng cho nghiên cứu. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow (1943) Maslow (1943) cho rằng nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc: Nhu cầu sinh học – Nhu cầu an toàn – Nhu cầu xã hội – Nhu cầu được tôn trọng – Nhu cầu được thể hiện bản thân. Các nhu cầu của con người được thỏa mãn từ thấp đến cao, khi nhu cầu thấp đạt được con người có xu hướng tìm cách thỏa mãn nhu cầu tiếp theo.
Tháp nhu cầu của Maslow (1943) 1. Thuyết hai nhân tố của Herzberg Thuyết hai nhân tố (Herzberg Two Factor Theory) được đưa ra bởi Herzberg (1959). Bao gồm: (i) nhân tố không hài lòng: Chính sách của tổ chức; Sự giám sát trong công việc; Các điều kiện làm việc không đáp ứng; Lương và phúc lợi không phù hợp; Quan hệ với đồng nghiệp và cấp trên có vấn đề; và (ii) Nhân tố hài lòng: Sự thừa nhận; Trách nhiệm; Sự tiến bộ trong nghề nghiệp; Sự tăng trưởng như mong muốn. Thuyết về sự công bằng của Adams (1963) Adams (1963) cho rằng con người luôn muốn được đối xử công bằng, và họ có xu hướng so sánh những đóng góp, cống hiến của mình với những đãi ngộ và phần thưởng mà họ nhận được (gọi là công bằng cá nhân).
Ngoài ra, họ còn so sánh đóng góp, cống hiến, đãi ngộ và phần thưởng của mình với những người khác (gọi là công bằng xã hội). Thuyết mong đợi của Vroom (1964) Thuyết kỳ vọng là một lý thuyết rất quan trọng trong lý thuyết quản trị nhân sự, bổ sung cho lý thuyết về tháp nhu cầu của Maslow (1943) bên cạnh thuyết công bằng Adams (1963). 7 Thuyết kỳ vọng này do Vroom (1964) cho rằng một cá nhân sẽ hành động theo một cách nhất định dựa trên những mong đợi về một kết quả nào đó hay sự hấp dẫn của kết quả đó với cá nhân. Lý thuyết này còn được biết đến với tên gọi Thuyết nhu cầu Tồn tại/Quan hệ/Phát triển.
Thuyết ERG nhận ra ba loại nhu cầu chính của con người: Nhu cầu tồn tại (Existence needs); Nhu cầu giao tiếp (Relatedness needs); và Nhu cầu phát triển (Growth needs). Thuyết X và Thuyết Y McGregor (1960) đã đưa ra hai quan điểm riêng biệt về con người: một là quan điểm máy móc và thiên hướng tiêu cực về con người và hành vi con người, gọi là Thuyết X; và hai là quan điểm linh hoạt và có thiên hướng tích cực về con người và hành vi con người, gọi là Thuyết Y. Theo Thuyết X, bản chất con người không thích làm việc và luôn trốn tránh khi có thể, vì vậy cần phải thưởng nếu muốn họ làm việc và trừng phạt khi họ không làm việc. Nói cách khác, con người thích bị kiểm soát và nếu bị kiểm soát mới làm việc tốt.
Thuyết Y của McGregor (1960) cho rằng bản chất con người thích làm việc và không trốn tránh khi có thể; thích tự định hướng và làm chủ; muốn và có thể học cách gánh vác trách nhiệm; không cần phải thưởng nếu muốn họ làm việc và không đánh giá cao việc trừng phạt khi họ không làm việc; không thích bị kiểm soát, nếu không bị kiểm soát mới làm việc tốt; sẽ gắn với nhóm nếu họ đạt được sự thỏa mãn cá nhân. Thuyết Y cũng cho rằng tài năng con người luôn tiềm ẩn, vấn đề quan trọng là biết khơi dậy. Tổng quan các nghiên cứu liên quan 1. Các nghiên cứu trong nước Đậu Hoàng Hưng (2018) thực hiện nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc của nhân viên văn phòng tại các khu công nghiệp Vũng Án, Hà Tĩnh.
Kết quả nghiên cứu được trình bày như hình 1. cho thấy: sự hài lòng chịu tác động bởi: tài chính và môi trường làm việc, quan hệ cấp trên, quan hệ đồng nghiệp. Kết quả nghiên cứu của Đậu Hoàng Hưng (2018) 9 Nguyễn Hải Nam (2018) thực hiện nghiên cứu về sự hài lòng của người lao động hành nghề kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Kết quả nghiên cứu được trình bày như hình 1.
cho thấy: sự hài lòng của người lao động hành nghề kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai chịu tác động bởi: môi trường và điều kiện làm việc, Tiền lương và chế độ chính sách, Cơ hội thăng tiến, Mối quan hệ với đồng nghiệp, Triển vọng phát triển của công ty. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hải Nam (2018) (Nguồn: Nguyễn Hải Nam, 2018) 10 Phan Thanh Hải (2018) thực hiện nghiên cứu về hài lòng trong công việc của nhân viên làm trong các doanh nghiệp kiểm toán tại Tp. Kết quả nghiên cứu được trình bày như hình 1. cho thấy: hài lòng chịu tác động bởi: quan hệ công việc với đồng nghiệp và lãnh đạo; tính chất công việc; phúc lợi, khen thưởng và sự công nhận; chính sách lương và quản trị doanh nghiệp; cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp.
Kết quả nghiên cứu của Phan Thanh Hải (2018) (Nguồn: Phan Thanh Hải, 2018) 11 Nguyễn Tiến Thức (2018) thực hiện nghiên cứu sự hài lòng trong công việc của nhân viên quản lý cấp trung tại các khu công nghiệp Đông Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu được trình bày như hình 1. cho thấy: sự hài lòng chịu tác động trực tiếp bởi: niềm tin vào tổ chức, động cơ làm việc, mối quan hệ nơi làm việc. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tiến Thức (2018) (Nguồn: Nguyễn Tiến Thức, 2018) 12 Huỳnh Thanh Tú và Trương Văn Nghiệm (2015) thực hiện nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên CTCP điện nước An Giang.
Kết quả nghiên cứu được trình bày như hình 1. cho thấy: sự hài lòng của nhân viên CTCP điện nước An Giang chịu tác động bởi: Bản chất công việc, Lãnh đạo, Thu nhập, Đào tạo và thăng tiến, Đồng nghiệp, Chính sách công ty, Điều kiện làm việc. Kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thanh Tú và Trương Văn Nghiệm (2015) (Nguồn: Huỳnh Thanh Tú và Trương Văn Nghiệm, 2015) 13 Lê Tuấn Lộc và cộng sự (2015) nghiên cứu về sự hài lòng công việc của nhân viên tại các công ty truyền thông. Kết quả nghiên cứu được trình bay như hình 1.
cho thấy: sự hài lòng công việc của nhân viên tại các công ty truyền thông chịu tác động bởi: môi trường làm việc, đồng nghiệp, đào tạo và thăng tiến, thu nhập, phúc lợi, và bản chất công việc. Kết quả nghiên cứu của Lê Tuấn Lộc và cộng sự (2015) (Nguồn: Lê Tuấn Lộc và cộng sự, 2015) 14 Trịnh Tú Anh và Lê Thị Phương Linh (2014) thực hiện nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên tại cảng hàng không sân bay Pleiku. Kết quả nghiên cứu được trình bày như hình 1. cho thấy: sự hài lòng của nhân viên chịu tác động bởi: Bản chất công việc, Tiền lương, Giám sát, và Chất lượng dịch vụ nội bộ Hình 1.
Kết quả nghiên cứu của Trịnh Tú Anh và Lê Thị Phương Linh (2014) (Nguồn: Trịnh Tú Anh và Lê Thị Phương Linh (2014) Nguyễn Thu Hằng và Nguyễn Khánh Trang (2013) nghiên cứu về sự hài lòng của đội ngũ giảng viên và viên chức làm việc ở các trường tại Lâm Đồng. Kết quả nghiên cứu được trình bày như hình 1. cho thấy: sự hài lòng của nhân viên chịu tác động bởi: đào tạo và phát triển, quan hệ cấp trên, điều kiện làm việc. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thu Hằng và Nguyễn Khánh Trang (2013) (Nguồn: Nguyễn Thu Hằng & Nguyễn Khánh Trang, 2013) 15 Phan Thị Minh Lý (2011) nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại tại Huế.
Kết quả nghiên cứu được trình bày tại hình 1.10 cho thấy: sự hài lòng trong công việc của nhân viên chịu tác động bởi: tính chất và áp lực công việc, thu nhập và các chế độ đãi ngộ, quan hệ và đối xử, triển vọng phát triển của ngân hàng và năng lực lãnh đạo, điều kiện làm việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến. Kết quả nghiên cứu của Phan Thị Minh Lý (2011) (Nguồn: Phan Minh Lý, 2011) 1. Các nghiên cứu ngoài nước Hee và cộng sự (2018) thực hiện nghiên cứu về hài lòng trong công việc của nhân viên văn phòng tại Malaysia. Kết quả nghiên cứu được trình bày như hình 1.
cho thấy: sự hài lòng của nhân viên đối với công việc chịu tác động bởi: căng thẳng trong công việc, thiếu khả năng giao tiếp, lương. Kết quả nghiên cứu của Hee và cộng sự (2018) (Nguồn: Hee và cộng sự (2018) Lee và cộng sự (2017) thực hiện nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc của nhân viên mới đi làm ở Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu của Lee được trình bày như hình 1. đã chỉ ra rằng: sự hài lòng trong công việc của nhân viên chịu tác động trực tiếp bởi: hành vi của lãnh đạo, phát triển cá nhân, bản chất công việc, mối quan hệ trong doanh nghiệp, năng lực trong công việc.
Kết quả nghiên cứu của Lee và cộng sự (2017) (Nguồn: Lee và cộng sự, 2017) 17 Amissah và cộng sự (2016) thực hiện nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên đối với công việc trong lĩnh vực khách sạn tại Ghana. Kết quả được trình bày trong hình 1. đã cho thấy: sự hài lòng trong công việc chịu tác động bởi: lương, quan hệ với cấp trên, thăng tiến trong công việc. Kết quả nghiên cứu của Amissah và cộng sự (2016) (Nguồn: Amissah và cộng sự (2016) 18 Rukh và cộng sự (2015) thực hiện nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên ở Pakistan.
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong hình 1.14 cho thấy: sự hài lòng của nhân viên chịu tác động bởi: lương, điều kiện làm việc, quan hệ cấp trên, thăng tiến, quan hệ đồng nghiệp, quản lý, căng thẳng, công việc ổn định.