Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về đất đai. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đất đai tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. CHUONG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE QUAN LY NHA NUOC VE DAT DAI: 1.
Tổng quan về dat đai: 1. Khái niệm đất dai: Theo Luật Đất đai của chính phủ năm 2013 về quản lý Đất đai đô thị thì: Đất đô thị là đất thuộc các khu vực nội thành, nội thị xã, thị tran được quy hoạch sử dụng để xây dựng nhà ở, trụ sở các cơ quan, các tổ chức, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng an ninh và các mục đích khác. Đất ngoại thành, ngoại thị đã có quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thâm quyên phê duyệt dé phát triển D6 thị cũng được quản lý như Dat đô thị. Nhu vậy, đất đai đô thị là đất đã được các cáp có thẩm quyền phê duyệt để xây dựng đô thị bao gồm: Đất nội thành, nội thị xã, thị tran, thị tứ đã được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ (đường sá, cống thoát nước, hệ thống cấp nước sạch, cấp điện.) hoặc đã được quy hoạch đang xây dựng từng phần cơ sở hạ tầng và dần hoàn chỉnh theo quy hoạch.
Trên phương diện luật pháp: Dat đô thị lá đất đã được các cấp có thâm quyên phê duyệt đê xây dựng đô thị. Còn trên phương diện hành chính đất đô thị bao gồm: Dat nội thành, nội thị xã thị tran. Phân loại đất đai: Đất đô thị là một hàng hóa đặc biệt, có nhiều chức năng khác nhau. Việc phân loại đất đô thị nhăm nắm vững được tính chat đặc điển của từng loại đất dé nâng cao công tác quản lý đất sao cho có hiệu quả nhất, đáp ứng nhu cầu phát triển của đô thị, hương tới sự phát triển bền vững.
Căn cứ vào mục đích sử dụng đất đô thị, theo Luật đất đai năm 2013 quy định đất được phân thành 3 nhóm sau đây: VY Đất nông nghiệp: Nhóm đất nông nghiệp được chia thành 5 loại đất sau - Đất sản xuất nông nghiệp: bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm. - Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. - Đất nuôi trồng thuỷ sản. - Đất làm muối.
- Đất nông nghiệp khác. Y Đất phi nông nghiệp: Nhóm đất phi nông nghiệp được chia thành 6 loại đất sau - Đất ở bao gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị. - Đất chuyên dùng bao gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đât sử dụng vào mục đích quôc phòng, an ninh; đât sản xuât, kinh doanh phi nông nghiệp; đât sử dụng vào mục đích công cộng. - Đất sử dụng vào mục đích công cộng là đất sử dụng vào mục đích xây dựng công trình đường giao thông, cầu, công, via hè, cảng đường thuỷ, bến phà, bến xe ô tô bãi đỗ xe, ga đường sắt, cảng hàng không: hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thuỷ lợi, đê, đập; hệ thống đường dây tải điện, hệ thống mạng truyền thông, hệ thống dẫn xăng, dầu, khí; đất sử dụng làm nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, công viên, vườn hoa, khu vui chơi cho trẻ em, quảng trường, sân vận động, khu an dưỡng, khu nuôi dưỡng người gia và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, cơ sở tập luyện thể dục - thể thao, công trình văn hoá, điểm bưu điện — văn hoá xã, tượng đài, bia tưởng niệm, nhà tang lễ, câu lạc bộ, nhà hát, bảo tàng, triển lãm, rạp chiếu phim, rap xiéc, cơ sở phục hồi chức năng cho người khuyết tật, cơ sở day nghề, cơ sở cai nghiện ma tuý, trại giáo dưỡng, trại phục hồi nhân phẩm; dat có di tích lich sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc được ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định bảo vệ; đất dé chất thải, bãi rác, khu xử lý chất thải.
- Đất tôn giáo, tín ngưỡng bao gồm đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng; đất có công trình là đình, đên, miêu, am, từ đường, nhà thờ họ. - Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa. - Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng. - Đất phi nông nghiệp khác.
Y Đất chưa sử dụng: Nhóm đất chưa sử dụng được chia thành 3 loại đất sau: - Đất bằng chưa sử dụng. - Đất đôi núi chưa sử dụng. - Núi đá không có rừng cây. Tất cả 3 nhóm, gồm 14 loại đất trên đều là đối tượng của công tác quản lý nhà nước về đât đai.
Vai trò của đất đai đối với sự phát triển kinh tế-xã hội: Đối với mỗi quốc gia, đất đai là một tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện để tồn tai và phát triển của con người và các sinh vật khác trên thế giới. Trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt tham gia vào tất cả các ngành sản xuất. Trong sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp thì đất đai là tư liệu sản xuất không thẻ thay thế. Trong nông nghiệp và lâm nghiệp, đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng, là yếu tố hàng đầu của hai ngành sản xuất này.
Dat đai vừa là chỗ tựa cho cây trồng lại vừa là nguồn cung cấp thức ăn cho cây. Moi tác động của con người vào cây trồng đều phải thông qua đất đai. Với sản xuất công nghiệp, đất đai đồng thời là đối tượng lao động và tư liệu lao động. Dat đai là đối tương lao động khi mà con người bằng những hoạt động sản xuất như cày bừa, bón phân.
để làm tăng độ phì, cải tạo đất đai nhằm làm tăng hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Đất đai là tư liệu lao động khi con người lợi dụng những đặc tính tự nhiên của dat đai dé tác động lên cây trồng và vật nuôi. Như vậy thông qua đất đai và bằng các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp con người sẽ tạo ra những nông, lâm sản dé đáp ứng các nhu cầu về lương thực, thực pham cũng như nguyên liệu cho công nghiệp. Với ngành công nghiệp, đất đai làm nền tảng, làm cơ sở, làm đặc điểm đề tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh để xây dựng được nhà xưởng dé máy móc, kho tàng, bến bãi, trụ sở.
Những thứ này là nhu cầu thiết yếu đề tiến hàng các hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngành công nghiệp phát triển nhanh chóng cũng kéo theo sự phát triêncủa ngành xây dựng. Các công trình công cộng, dân sự phát triển đòi hỏi xây dựng nhà ở và hình thành đô thị, các khu dân cư mới. Nhu cầu xây dựng ngày càng tăng cũng đồng nghĩa với nhu cầu đất đai cho xây dựng, giao thông ngày càng lớn.
Trong ngành dịch vụ- du lịch đất đai cũng đóng vai trò rất quan trọng dé phát triển được ngành trên những diện tích đất. Với xu thế hiện nay thi dat đai cho ngành này ngày càng tăng và giá trị sản xuất của nó mang lại cũng lớn. Xét trên giác độ chính trị- pháp lý thì dat đai là một bộ phân không thé tách rời của lãnh thé quốc gia, nó gắn liền với chủ quyền của mỗi đất nước. Việc bảo vệ lãnh thô, chủ quyền của quốc gia cũng là bảo vệ đất đai.
Tóm lại, đất đai có vai trò hết sức quan trọng, là tư liệu sản xuất chính là điều kiện của lao động và là bộ phận lãnh thổ quốc gia. Trong lịch sử và cả ở hiện tại thì đất đai vẫn là đối tượng tranh chấp, mâu thuẫn. Vì lẽ đó, mà công tác quản lý Nhà nước về đất đai phải luôn chú trọng và không ngừng làm tốt hơn nữa. Quản lý nhà nước về đất đai: 1.
Khát niệm quan lý: Hiện nay có rất nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý, có quan niệm cho rằng quản lý chính là cai tri; cũng có quan niệm cho rằng quản lý là điều hành, điều khiến, chỉ huy. Quan niệm chung nhất về quản lý được nhiều người chấp nhận do điều khiển học được đưa ra như sau: Quản lý là sự tác động định hướng bắt kỳ lên một hệ thông nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó đến phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. Quan niệm này không những phù hợp với hệ thống máy móc thiết bi, cơ thé sông, mà còn phù hợp với một tập thể người, một tổ chức hoặc một cơ quan nhà nước. Khái niệm quản lý Nhà nước về đất đai: Quản lý nhà nước về đất dai là tông hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thâm quyền dé thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai ; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trì nh quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.
Quản lý nhà nước về Dat đô thị cũng như Dat ở là tổng thé các biện pháp, chính sách nhà nước tác động vào môi quan hệ kinh tê - xã hội phát sinh trong quá trình sử dung Dat đô thi nhăm sử dụng dat hợp lý, tiêt kiệm, hiệu quả. Nghiên cứu cụ thé về quan hệ đất đai, chúng ta thấy sở hữu Nhà nước về đất đai làm phát sinh quyến sở hữu Nhà nước đối với đất đai. Khác với quyền sở hữu là các tài sản khác trong Luật Dân sự, quyền sở hữu Nhà nước về đất đai là quyền sở hữu duy nhất và thống nhất. Các quyền năng của sở hữu Nhà nước về đất đai được Nhà nước thực hiện trực tiếp bang việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất đai của các cơ quan quyền lực.
Các quyền năng này cũng không chỉ được thực hiện trực tiếp mà còn được thực hện thông qua các tô chức, cá nhân sử dụng đất theo những điều kiện và theo sự giám sát của Nhà nước. Các mỗi quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng ‹ đất như: cấp giấy chứng nhận quyén sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, chuyên quyền sử dụng, chuyên mục đích sử dụng, thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng, giá đất và những vấn đề cơ bản liên quan là quyền sở hữu và quyền sử dụng đất.