Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý cơ sở hạ tang giao thông đô thị. Chương 2: Thực trạng cơ sở hạ tang giao thông đô thị và công tác quản lý cơ sở hạ tang giao thông đô thị trên dia bàn huyện Đông Anh, thành phố Ha Nội. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quan lý cơ sở hạ tang giao thông đô thị trên địa bàn huyện Đông Anh. 4 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã việt là do bản thân thực hiện, không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc chuyên đê của người khác; nêu sai phạm tôi xin chịu kỷ luật với Nhà trường.
Hà Nội, ngày.năm 2020 Ký tên CHUONG I: KHÁI LUẬN VE QUAN LÝ CƠ SỞ HẠ TANG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 1. MỘT SO KHÁI NIEM 1. Đô thị Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tông hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đây sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh hay của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện. Khái niệm đô thị có tính tương đối do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống dân cư.
Mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình. Việt Nam quy định đô thị là những thành phó, thị xã, thị trấn với tiêu chuẩn về quy mô dân số cao hơn, nhưng cơ cấu lao động phi nông nghiệp thấp hơn. Điều đó xuất phát từ đặc điểm nước ta là một nước đông dân, đất không rộng, đi từ một nước nông nghiệp lên xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng thể hiện sự nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong điều kiện nước ta.
Theo “Quy chuẩn kỹ thuận quốc gia về Quy hoạch xây dựng của Bộ xây dựng 2019”: Đô thị là điểm dân cư tập trung có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế, xã hội của một vùng lãnh thd, có cơ sở hạ tầng thích hợp và quy mô dân số thành thị tối thiểu là 4000 người với tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiêu 65%. Đô thị gồm các loại thành phó, thị xã, thị trấn. Đô thị bao gồm các khu chức năng đô thi. Quản lý đô thị Ngày nay, Quản lý đô thị dang dan trở thành một chủ dé quan trọng và day tính phức tạp đối với chính phủ và các t6 chức phát triển quốc tế trên thé giới.
Quản lý có thể hiểu là công việc giám sát bảo đảm mọi hành động thực hiện công việc trơn tru sao công việc hoàn thành qua các nhân sự. Quản lý đồng thời liên kết chặt chẽ với việc ra quyết định hoặc lựa chọn cách thức kế hoạch tổ chức; bảo vệ và sử dụng các nguồn lực có được dé sản xuất hàng hóa và dich vụ phục vụ cho việc tiêu thụ, thương mại, hưởng thụ, hoặc để xây dựng vốn và tài sản cho phát triển trong tương lai. 6 Quan lý đô thị là quá trình tác động bằng các cơ chế, chính sách của các chủ thé quan lý đô thi (các cấp chính quyền, các tô chức xã hội, các sở, ban, ngành chức năng) vào các hoạt động đô thị nhằm thay đôi hoặc duy trì hoạt động đó. Trên góc độ Nhà nước, quản lý nhà nước đối với đô thị là sự can thiệp băng quyền lực của mình (bằng pháp luật, thông qua pháp luật) vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị nhăm phát triển đô thị theo định hướng nhất định.
Cơ sở hạ tang Cơ sở hạ tầng được hiểu là toàn bộ những điều kiện về mặt vật chất, kỹ thuật, .tồn tại trong xã hội và môi trường dùng dé phuc vu cho moi hoat dong sản xuất, đời sống của con người. Cơ sở hạ tang là một thuật ngữ tông hop dùng dé chỉ những bộ phận kết cấu, nền tảng cho việc phát triển nền kinh tế. Xét trên phương diện hình thái, cơ sở hạ tầng là những tài sản hữu hình gồm đường xá, cầu cống, hệ thống thủy lợi, các công trình công cộng, các công trình hạ tầng kỹ thuật, lực lượng lao động tri thức. Dựa trên cơ sở có sẵn, các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội luôn được duy trì và phát triển.
Đây cũng chính là những công trình thuộc hạ tầng xã hội hoặc hạ tầng cơ sở theo quy định tại Mục 1.2 Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXDVN 01:2008/BXD. Xét trên phương diện kinh tế hàng hóa thì cơ sở hạ tầng là một loại hàng hóa công cộng. Loại hàng hóa này dùng dé phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội. Xét trên phương diện đầu tư, cơ sở hạ tang là kết quả, sản pham của quá trình đầu tư được gom góp lại qua nhiều thế hệ.
Nó được coi là một bộ phận giá trị, tiết kiệm quốc gia, được đầu tư đáp ứng mọi yêu cầu, mục tiêu phát triển trên mọi mặt của đất nước. Từ đó, tựu chung lại có thé hiểu như sau: Cơ sở hạ tầng được hiểu là toàn bộ những điều kiện về vật chất, kỹ thuật, thiết chế xã hội. được trang bị các yếu tố vật chất phục vụ cho hoạt động sản xuất và đời sống con người. Cơ sở hạ tầng vừa có các yếu tố vật chất vừa phi vật chất và nó cũng là sản phẩm của quá trình đầu tư dé làm nền tảng cho sự phát triển của toàn xã hội.
Cơ sở hạ tang giao thông đô thị Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị là tập hợp của mạng lưới đường, các công trình phục vụ giao thông được sử dụng trong đô thị. Bên cạnh hệ thông giao thông thì cơ sở hạ tang giao thông là công cụ giúp cho giao thông đô thị vừa dam bảo công tác vận chuyền và liên hệ thuận tiện, nhanh chóng giữa các bộ phận chức năng cơ bản của đô thị như: nơi ở, nơi làm việc, khu nghỉ ngơi, giải trí và các trung tâm của đô thị với nhau, mặt khác vừa đáp ứng các nhu cầu vận chuyền và liên hệ giữa đô thị với các điểm dân cư khác ở xung quanh. Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị đã trở thành một bộ phận không thé thiếu trong thiết kế quy hoạch đô thị. Mang lưới hạ tầng giao thông đô thị quyết định hình thái tổ chức không gian đô thị, hướng phát triển đô thị, cơ cấu tô chức sử dụng đất đai và mối quan hệ giữa các bộ phận chức năng với nhau.
Quản lý cơ sở hạ tang giao thông đô thị Từ khái niệm quản lý đô thị, ta có thể hiểu được quản lý cơ sở hạ tầng giao thông là tổng thể các biện pháp, các chính sách, các công cụ mà chủ thể quản lý tác động vào các nhân tổ của cơ sở hạ tang nhằm đảm bao cho cơ sở hạ tầng vận hành một cách hiệu quả. Ta có thé thấy giao thông đô thị là một hệ thong chặt chẽ, các yếu tố cầu thành có sự ràng buộc và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Đề có thể có được hạ tầng giao thông trơn tru, thông suốt, cần thiết phải đảm bảo các bộ phận được liên kết và phối hợp nhịp nhàng. Cơ sở hạ tang giao thông chủ yéu là mạng lưới các tuyến đường chính là mạch máu của hệ thống này.
Muốn cho cơ sở hạ tầng giao thông đô thị hoạt động một cách hiệu quả nhất, tận dụng tối đa công suất thì phải quản lý và phát triển mạng lưới giao thông phù hợp với từng loại đô thị, phù hợp với địa hình và tình hình kinh tế xã hội, mật độ dân cư. Khi chúng ta xây dựng được cơ sở hạ tầng giao thông tốt, chất lượng thì hệ thống giao thông sẽ duy trì được dòng di chuyền thông suốt, nhịp nhàng “như dòng chảy”, không có điểm tắc nghẽn, tiết kiệm chi phí, thời gian đi lại và hình thành nên văn minh đô thị hiện đại. Do tầm quan trọng của hệ thống hạ tầng giao thông nói chung, hạ tầng giao thông đô thị nói riêng đối với sản xuất và đời sống xã hội, nên việc quản lý hệ thống này là rất cần thiết vì sự phát triển của cộng đồng. Quan lý là một chức năng bắt nguồn từ tính xã hội của lao động trong điều kiện phát triển kinh tế, quản lý được xem là thước đo của hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội.
Tùy theo đối tượng quản lý mà người ta có thê phân chia thành các loại như: quản lý kinh tế, quản lý xã hội hay còn chia thành quản lý công nghiệp, quản lý nông nghiệp, quản lý đô thị., trong đó có quản lý hạ tầng giao thông đô thị. Quản lý hạ tầng giao thông đô thị là quá trình sử dụng công cụ và phương pháp quản lý dé thực hiện các nội dung: hoạch định, tô chức, chỉ đạo, thanh, kiểm tra các quan hệ kinh tế - xã hội trong hoạt động sử dụng hạ tầng giao thông đô thị dé đạt được các mục tiêu đã định nhằm hướng ý chí và hành động của các chủ thé quản lý vào mục tiêu chung, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thé và lợi ích của Nha nước. Quản lý hạ tầng giao thông đô thị là một bộ phận, đồng thời là nội dung cơ bản của quản lý kinh tế - xã hội. Chủ thể quản lý là nhà nước có chức năng và nhiệm vụ quản lý đối với tất cả các cá nhân, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế, nhưng không được can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quản lý hạ tầng giao thông đô thị là một trong những lĩnh vực đặc biệt quan trọng, cần phải được Nhà nước quan tâm hàng đầu trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nhu cầu đi lại, giao thương ngày càng tăng lên, kéo theo đó là hàng loạt vấn đề phát sinh liên quan đến hạ tầng giao thông đô thị. CƠ SỞ HẠ TẢNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 1. Đặc điểm của cơ sở hạ tang giao thông đô thị + Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị là hàng hoá công cộng do nhà nước đầu tư, vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông đô thị là rất lớn, không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp hoặc có nhưng rất chậm. Vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông đô thị là vốn từ ngân sách là chủ yếu.