MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thời đại ngày nay “tri thức là sự giàu có” và lợi thế so sánh trong cạnh tranh kinh tế phụ thuộc vào kiến thức và tri thức của con người. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế. Sức mạnh trí tuệ là yếu tố quyết định sự thành bại, “lao động có kỹ năng sẽ trở thành lợi thế so sánh lâu dài” và “kỹ năng là vũ khí cạnh tranh quyết định trong thế kỷ XXI”.
Đầu tư vào giáo dục và đào tạo sẽ tích luỹ vốn con người, sẽ cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao và chất lượng cao. Đội ngũ nhân lực có trình độ cao là chìa khoá để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập. Đặc biệt đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước (mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp), giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội. Từ 1986 đến nay, nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, song song với quá trình này là sự mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Khi hội nhập kinh tế quốc tế, bộ máy quản lý Nhà nước phải điều chỉnh để có những cơ cấu, thể chế tương thích. Nếu vào một cuộc chơi chung mà riêng mình một bài riêng thì chắc chắn là không “ăn”. Chúng ta phải tự điều chỉnh, đó là tất yếu. Nhà nước trước đây quản lý cả về vĩ mô và vi mô thì bây giờ xác định chỉ quản lý vĩ mô toàn xã hội thông qua việc sử dụng công cụ để điều tiết chung.
Vấn đề này sẽ được tách bạch và đây chính là mục tiêu của cải cách hành chính. Yêu cầu hàng đầu hiện nay là làm rõ chức năng, Nhà nước sẽ làm đúng việc của mình, đó là làm chính sách, làm pháp luật, làm cơ chế, làm tiêu chuẩn chung của xã hội, sau đó hướng dẫn xã hội, thanh tra và kiểm 1 z soát nó. Một trong những thách thức lớn nhất của quá trình chuyển đổi này là mâu thuẫn giữa yêu cầu của quá trình hội nhập với trình độ. Trình độ nền hành chính của Việt Nam so với khu vực và thế giới còn kém.
Nhận thức rõ mâu thuẫn này, một trong những giải pháp đưa ra đó là đào tạo và bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức (Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2003). Tiếp đó, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành "Quy định các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức" (Quyết định số 13/2006/QĐ-BNV ngày 06 tháng 10 năm 2006). Học viện Hành chính Quốc gia được thành lập từ 1959 đến nay và ngày càng có vai trò quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ, công chức.
"Học viện Hành chính Quốc gia là Trung tâm Quốc gia, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật; thực hiện các chức năng: đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, các chức danh công chức hành chính các cấp, cán bộ, công chức cơ sở, công chức dự bị, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên các chuyên ngành hành chính và quản lý nhà nước; nghiên cứu khoa học hành chính và tư vấn cho Chính phủ trong lĩnh vực hành chính và quản lý nhà nước. Nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức thì lớn, trong khi đó khả năng đầu tư của ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, Nhà nước không thể bao cấp toàn bộ cho sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức. Trong nền kinh tế thị trường, áp lực về cải cách tài chính cho đào tạo bồi dưỡng lực lượng lao động của cả nước nói chung và cán bộ công chức nói riêng đã tăng lên ở hầu hết các nơi trên thế giới. Những giải pháp nhằm khắc phục sự khan hiếm về nguồn vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu 2 z tư, sẽ được tìm ra cho các cơ sở đào tạo với điều kiện khung chính sách cho các hoạt động phải được cải cách một cách cơ bản và các cơ sở đào tạo ngày càng phải năng động hơn trong việc tìm kiếm và gia tăng nguồn lực đầu tư cho đào tạo và bồi dưỡng.
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn tài chính và để cho hoạt động đào tạo của Học viện ngày càng đảm bảo chất lượng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cho sự nghiệp đổi mới quản lý nhà nước, kết hợp với những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình công tác, đề tài "Các biện pháp tăng nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện Hành chính Quốc gia" vừa nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết và có tính thời sự trong tình hình hiện nay. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở xác định các cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng của việc quản lý huy động nguồn lực tài chính, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm tăng nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện Hành chính Quốc gia (HCQG) trong bối cảnh mới. Khách thể nghiên cứu Các nguồn tài chính có khả năng huy động cho đào tạo, bồi dưỡng ở Học viện HCQG 4. Đối tƣợng nghiên cứu Quá trình quản lý nhằm tăng nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng ở Học viện HCQG trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vai trò của đào tạo, bồi dưỡng; tầm quan trọng của các nguồn tài chính và việc quản lý huy động các nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. 3 z Phân tích tình hình các nguồn tài chính và thực trạng công tác quản lý nhằm tăng nguồn tài chính cho phát triển đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện HCQG. - Đề xuất về một số biện pháp về đổi mới công tác quản lý nhằm tăng nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện HCQG - Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất thông qua phiếu hỏi ý kiến các chuyên gia và cán bộ quản lý. Giả thuyết khoa học Trong điều kiện nguồn ngân sách nhà nước cấp cho đào tạo, bồi dưỡng không tương ứng với việc mở rộng quy mô đào tạo, bồi dưỡng; việc huy động các nguồn tài chính ngoài ngân sách có kết quả tích cực hơn dựa trên quan điểm cho rằng cần xây dựng và hoàn thiện các phương án thực hiện chế độ tự chủ, trách nhiệm xã hội và quy chế chi tiêu nội bộ của Học viện HCQG.
Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Các nguồn tài chính cho phát triển đào tạo, bồi dưỡng của Học viện HCQG được nghiên cứu chủ yếu đối với các nguồn kinh phí cấp cho chi thường xuyên không đi sâu vào nguồn cấp cho đầu tư xây dựng cơ bản; và nghiên cứu các nguồn tài chính dưới góc độ quản lý tài chính. Đối với các khoản chi phí của người học (chi phí tư nhân) cho công tác đào tạo, bồi dưỡng chủ yếu đề cập tới khoản đóng góp của người học cho cơ sở đào đào tạo dưới hình thức học phí không đi sâu nghiên cứu tất cả các chi phí của người học cho quá trình đào tạo. Về thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2002 đến nay (từ khi có Nghị định số 10/2002/ NĐ -CP - dấu hiệu bắt đầu tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở đào tạo). Phƣơng pháp nghiên cứu Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau: Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận - Sưu tầm sách, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu - Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu để xây dưng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp điều tra xã hội học (sử dụng bảng câu hỏi trong đánh giá các quy định hiện hành của Học viện và các khả năng tăng nguồn tài chính cho đào tạo bồi dưỡng) - Phương pháp thu thập và phân tích số liệu thống kê (về quy mô đào tạo, bồi dưỡng; về nguồn thu) - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý - Phương pháp hỏi ý kiến các chuyên gia. Cấu trúc luận văn Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhằm tăng nguồn tài chính của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Chƣơng 2: Đánh giá công tác quản lý huy động các nguồn tài chính cho phát triển đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện Hành chính Quốc gia Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý nhằm tăng nguồn tài chính cho phát triển đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện Hành chính Quốc gia trong bốí cảnh mới 5 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHẰM TĂNG NGUỒN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1.1 Đào tạo, bồi dƣỡng và các chƣơng trình đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức 1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng và cán bộ, công chức 1. Đào tạo Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người.
Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục nhân cách. Như vậy, đào tạo là sự phát triển có hệ thống những kiến thức kỹ năng của mỗi người có thể thực hiện tốt nghề nghiệp hay nhiệm vụ của mình.