PHẦN MỞ ĐẦU Chương 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chương 3: XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2. Cạnh tranh Cạnh tranh trong các lĩnh vực nói chung và kinh tế nói riêng luôn được định nghĩa theo nhiều cách khác tùy theo từng ngành từng trường phái… mà định nghĩa được đưa ra phù hợp nhất nhưng nhìn chung được bao quát qua các định nghĩa sau: Thứ nhất, cạnh tranh là cơ sở để một doanh nghiệp tồn tại phát triển và tiềm kiếm lợi nhuận tại một quốc gia hay trên thị trường quốc tế. Điều này thấy được ở từ cạnh tranh của một quốc gia là nhằm nâng cao mức sống, vị thế cũng như năng lực của quốc gia (Greenhut và cộng sự, 1987).
Thứ hai, cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất. (Theo (Nam, 2014) Ngoài ra, theo M. Porter (1998), thì giành lấy thị phần chính là bản chất của cạnh tranh. Không những thế, tác giả này còn chỉ ra rằng cạnh tranh là việc tạo ra lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai cao hơn mức lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại.
Tuy nhiên, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành đôi khi còn làm giảm giá chính sản phẩm của các doanh nghiệp trên thị trường và gây ra một số tác động không mong muốn đối với bản thân doanh nghiệp (Singh & Vives, 1984). Xét về góc độ thương mại, trận chiến của các doanh nghiệp nhằm chiếm được sự chấp nhận và tin tưởng của khách hàng là bản chất của cạnh tranh (Levy & Ali, 1998). Lợi thế cạnh tranh Mô hình I/O thì xem lợi thế cạnh tranh là một lợi ích mà công ty có được từ việc cung cấp sản phẩm phù hợp và giá cả thấp hoặc các sản phẩm thật sự khác biệt đối với và chịu được áp lực của thị trường cũng như của các đối thủ cùng ngành và được khách hàng chấp nhận (M. Chỉ các công ty có thể thích ứng được với các yêu cầu của thị trường mới có thể tiếp tục phát triển nếu không sẽ bị chính thị trường đào thải.
Tóm lại, định nghĩa theo trường phái tân cổ điển thì lợi thế cạnh tranh được xem là năng lực bên ngoài của doanh nghiệp chứ không phải năng lực bên trong và được phát triển dựa trên tài nguyên doanh nghiệp. Ngoài ra, theo các tác giả Rumelt và Lamb (1984); Wernerfelt (1984); Reed và DeFillippi (1990) lợi thế cạnh tranh là một năng lực cạnh tranh đặc biệt của doanh nghiệp trước các đối thủ. Tổ chức sử dụng liên kết các nguồn lực của mình nhằm tạo ra đặc quyền cho doanh nghiệp so với các đối thủ trên thị trường được gọi là lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh luôn chịu tác động mạnh từ yếu tố thị trường doanh nghiệp cần thích nghi để có thể duy trì được nó.
Theo Kay (1993) định nghĩa các khả năng đặc biệt là những khả năng có được bắt nguồn từ những đặc điểm mà những doanh nghiệp khác không có và bền vững và có thể được chấp nhận. Một khả năng đặc biệt sẽ giúp tạo ra một lợi thế cạnh tranh khi nó được áp dụng trong một ngành công nghiệp hoặc đưa ra thị trường. Trái lại, theo J. Barney (1986) lợi thế có thể được tạo ra bằng các kỹ năng triển khai tài nguyên một cách hợp lý, tối ưu các nguồn lực song song đó doanh nghiệp cần sử dụng các tài sản sở hữu một cách ưu việt nhất để tạo sự khác biệt về chi phí và giá cả.
Ngoài ra, nó còn được tạo ra khi doanh nghiệp may mắn nắm được nguồn lực nằm ngoài phạm vi của các đối thủ. Bên cạnh đó, lợi thế có thể được duy trì và nâng cao bằng cách tái đầu tư vào các năng lực của doanh nghiệp để giảm khả năng bắt chước của đối thủ. 9 Còn theo (Selznick, 1957); Hofer và Schendel (1978) thì hiệu quả việc liên kết các năng lực của doanh nghiệp bằng triển khai chiến lược sử dụng tài nguyên là lợi thế cạnh tranh giúp nâng cao vị thế doanh nghiệp với đối thủ. Trong đó, lợi thế cạnh tranh có được từ dựa vào chính năng lực bên trong của chính doanh nghiệp và phụ thuộc vào hiệu quả, hiệu suất cũng như khả năng vận dụng dựa trên chiến lược của công ty.
Peteraf (1993); Besanko và cộng sự (2000) định nghĩa lợi thế cạnh tranh là duy trì trên mức lợi nhuận trung bình cao hơn mức trung bình của các đối thủ cạnh tranh trong cùng một thị trường. Theo tác giả thì tạo lợi thế bằng cách gia tăng giá trị thực của tài nguyên lớn hơn mức kỳ vọng nhưng không dựa trên các nguồn tài nguyên không bền vững của công ty vì các tài nguyên đó "có thể là nguồn lợi thế cạnh tranh" nhưng sẽ không thể duy trì và làm cho công ty sụt giảm vị thế của mình với đối thủ. Ngoài ra, dựa trên khía cạnh khách hàng thì một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh so với một doanh nghiệp khác khi người tiêu dùng cảm thấy giá trị mà họ nhận được là từ danh nghiệp là cao nhất so với đối thủ khác (Christensen và cộng sự, 2010; Slater & Narver, 1994). Trong đó, giá trị cho khách hàng là sự thặng dư giữa tổng giá trị nhận được và tổng chi phí của khách hàng bỏ ra.
Mặt khác, Slater và Narver (1994) cho rằng: “Muốn có được hiệu suất cao nhất thì việc thiết yếu của doanh nghiệp là phát triển và duy trì lợi thế cạnh tranh. Trong đó, cốt lõi của lợi thế cạnh tranh là năng lực cung cấp một giá trị vượt trội cho chính khách hàng của doanh nghiệp. Đây chính là bản chất của lợi thế cạnh tranh” Tổng kết, lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp được giải thích thông qua chất lượng dịch vụ, sản phẩm đóng góp xây dựng nên giá trị mà khách hàng nhận được. Kết quả của toàn bộ quá trình là nhận được sự hài lòng cao nhất của khách hàng cũng như định hướng tiêu dùng của khách hàng, hay cuối cùng là tạo ra sự trung thành của khách hàng nhằm mục đích cải thiện kết quả kinh doanh và gia tăng lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh Định nghĩa về năng lực cạnh tranh cũng được xây dựng và hoàn thiện qua khoảng thời gian dài dựa trên nhiều quan điểm, trường phái cũng như các nghiên cứu, một số định nghĩa như sau: Thứ nhất, Khả năng cạnh tranh và mở rộng cũng như tiếp tục với thị phần của mình và duy trì được lợi nhuận cao cho doanh nghiệp đó chính là năng lực cạnh tranh. Và khái niệm này cũng được chấp nhuận rộng rãi nhất hiện nay. Và dựa trên quan điểm về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp (R. Thứ hai, năng lực cạnh tranh cũng chính là năng suất lao động.
Cụ thể, tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì lại cho rằng sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế chính là năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Cũng theo quan điểm của R. Porter (1990) thì năng suất lao động chính là thước đo duy nhất cho năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Nhưng các quan điểm này cũng có những điểm hạn chế là chưa gắn kết được với mục tiêu và định hướng của một doanh nghiệp.
Thứ ba, năng lực canh tranh là duy trì và nâng cao các lợi thế trong hoạt động kinh doanh. Dựa trên nghiên cứu của M. Porter và Millar (1985) thì doanh nghiệp phải sở hữu công nghệ cao giúp giảm chi phí hoặc doanh nghiệp đó phải có sản phẩm thật sự khác biệt so với các đối thủ cùng ngành để tạo được lợi thế cạnh tranh tuyệt đối. Đây cũng chính là năng lực cạnh tranh theo quan điểm của M.
Porter và Millar (1985). Doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế canh tranh tốt để làm nền tảng tạo ra sản phẩm chất lượng cao đáp ứng nhu cầu và năng suất tăng để duy trì năng lực cạnh tranh. 11 Nâng cao năng lực cạnh tranh cần gắn liền với duy trì lợi thế để có thể tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (M. Nói cách khác, doanh nghiệp muốn nâng cao lợi nhuận thì phải có những giải pháp phù hợp dựa trên xu hướng của thị trường.
Cũng theo Porter và một số nhà khoa học thì việc kiểm soát chi phí và hạ thấp giá thành có thể giúp tăng năng lực cạnh tranh nhưng không phải các biện pháp phi nhân đạo như: giảm lương nhân viên, giảm chi phí phúc lợi, phá hoại môi trường, giảm chí phí bảo hộ lao động… Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo ra lợi thế trong dài hạn cần vận dụng hợp lý các nguồn lực xã hội nhưng cũng phải có chiến lược xây dựng và phát triển doanh nghiệp bền vững. Khả năng tạo lập, sử dụng và duy trì cũng như sáng tạo làm mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được gọi là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Vũ Trọng Lâm, 2006). Theo như tác giả Lê Công Hoa (2006) thì việc thể hiện thực lực và các lợi thế của doanh nghiệp với đối thủ trong việc đáp ứng cao nhất nhu cầu của khách hàng nhằm đạt được lợi ích các nhất cho doanh nghiệp đó là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Xây dựng và phát triển các yếu tố cho việc phát triển bên vững là yếu tố tiên quyết cho việc duy trì và tăng cường lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, phát triển mạng lưới phân phối, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất để có kết quả đạt lợi ích kinh tế cao (Nguyễn Minh Tuấn, 2010).
Thứ tư, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên khả năng kết hợp các nguồn lực của chính doanh nghiệp để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Theo Sanchez và Heene (1996) thì việc am hiểu, khai thác, sử dụng cũng như duy trì và phối hợp các nguồn lực của chính doanh nghiệp sao cho lợi ích mà doanh nghiệp đạt được là cao nhất đó là lợi thế cạnh tranh.