CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ TNDN 1. Giới thiệu tổng quan về sắc thuế TNDN 1. Khái niệm thuế TNDN: Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập trực tiếp của doanh nghiệp. Thuế trực thu là loại thuế động viên, điều tiết vào thu nhập của người chịu thuế.
Đối tượng chịu thuế phải có thu nhập chịu thuế, thu nhập càng cao thì đóng thuế càng nhiều. Trong thuế trực thu, người có nghĩa vụ nộp thuế đồng thời là người chịu thuế trên thu nhập mà mình được hưởng. Chính vì thế, thuế trực thu không được tính vào cơ cấu giá thành hàng hóa dịch vụ và không được trừ vào chi phí khi tính thu nhập chịu thuế của cơ sở kinh doanh. Chuẩn mực số 17: Thuế Thu nhập Doanh nghiệp, định nghĩa "Thuế TNDN bao gồm toàn bộ số Thuế thu nhập tính trên thu nhập chịu Thuế TNDN, kể cả các khoản thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ tại nước ngoài mà Việt Nam chưa ký Hiệp định về tránh đánh Thuế hai lần.
Thuế TNDN bao gồm cả các loại Thuế liên quan khác được khấu trừ tại nguồn đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam không có cơ sở thường trú tại Việt Nam được thanh toán bởi công ty liên doanh, liên kết hay công ty con tính trên khoản phân phối cổ tức, lợi nhuận (nếu có); hoặc thanh toán dịch vụ cung cấp cho đối tác cung cấp dịch vụ nước ngoài theo quy định của Luật Thuế TNDN hiện hành". Tóm lại, Thuế TNDN là một loại Thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu Thuế của các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu Thuế. Tính chất trực thu của loại Thuế này được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp Thuế và đối tượng chịu Thuế. Thêm nữa, Thuế TNDN đánh vào thu nhập chịu Thuế của Doanh Nghiệp, bởi vậy mức động viên vào NSNN đối với loại Thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh của Doanh Nghiệp.
Đặc điểm của thuế TNDN Là loại thuế thu nhập nên thuế TNDN mang đầy đủ đặc điểm của thuế thu nhập thông thường. Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp có đối tượng đánh thuế là thu nhập. Trong hệ thống thuế ở các nước, có nhiều loại thuế khác nhau, có đối tượng tính thuế, đối tượng nộp thuế khác nhau, nhưng suy đến cùng thì bất kỳ loại thuế nào cũng đều lấy từ thu nhập của người dân trong xã hội để tập trung vào quỹ NSNN. Tuy nhiên, không phải loại thuế nào cũng là thuế thu nhập.
Thuế thu nhập khác với thuế tiêu dùng, thuế tài sản ở chỗ: thuế thu nhập là loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của các cơ sở sản xuất kinh doanh khi có thu nhập chịu thuế phát sinh. Đối với thuế tiêu dùng là loại thuế gián thu đánh vào việc sử dụng thu nhập của người dân, thông qua việc người dân sử dụng thu nhập để mua hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng, phần thu nhập mà Nhà nước lấy đi của họ được cộng vào trong giá bán của hàng hoá, dịch vụ. Vì thế, người chịu thuế, người nộp thuế là không đồng nhất (người tiêu dùng là người chịu thuế, người kinh doanh hàng hoá, cung ứng dịch vụ là người nộp thuế). Đối với thuế tài sản là loại thuế đánh vào thu nhập tích luỹ đã được vật hoá dưới dạng tài sản của tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Về bản chất, thuế tài sản cũng là thuế trực thu nhưng có đối tượng đánh thuế là tài sản. Mặc dù, tài sản và thu nhập đều là của cải của một chủ thể có được nhờ những nguồn lợi thu được từ các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, giữa chúng cũng có sự khác nhau, cụ thể: tài sản là khối lượng của cải của một chủ thể ở một thời điểm nào đó, còn thu nhập là số của cải thu được của một chủ thể trong khoảng thời gian nhất định. Như vậy, thu nhập của một thời kỳ sẽ không bao gồm thu nhập ở thời kỳ trước, còn tài sản lúc cuối kỳ thì bao gồm tất cả các thu nhập của các kỳ trước đó cộng lại.
Vì vậy, khái niệm “tài sản” phải gắn với yếu tố thời điểm, còn khái niệm “thu nhập” gắn với yếu tố khoảng thời gian nhất định; 6 Thứ hai, thuế TNDN là thuế trực thu. Ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho NSNN, nó còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hoà thu nhập xã hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước. Bởi vậy, pháp luật thuế thu nhập ở các nước thường có những quy định về chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng khuyến khích của thuế thu nhập hoặc thực hiện việc áp dụng đánh thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần đối với một số khoản thu nhập chịu thuế để thực hiện các mục tiêu điều tiết; Thứ ba, thuế thu nhập là một loại thuế phức tạp, có tính ổn định không cao,việc quản lý thuế, thu thuế tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường lớn hơn so với các thuế khác. Đối với thuế thu nhập, ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, địa điểm phát sinh thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu thu nhập, tính ổn định của thu nhập…Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định được các khoản khấu trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm bảo đảm mục tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế.
Thứ tư, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập bao gồm các văn bản Quy phạm pháp luật thuế quốc gia và văn bản Quy phạm pháp luật thuế quốc tế. Bởi thuế thu nhập là thuế trực thu nên nó có thể là đối tượng được điều chỉnh bởi hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Bên cạnh đó, thuế TNDN cũng mang đặc điểm riêng của loại thu nhập doanh nghiệp dưới góc độ phân biệt với thuế thu nhập cá nhân như về đối tượng nộp thuế là tổ chức sản xuất kinh doanh sản xuất hàng hoá, dịch vụ; về thu nhập bị đánh thuế; về cách tính thuế tính đến yếu tố như doanh thu, chi phí, về ưu đãi thuế. Vai trò của Thuế TNDN Thuế TNDN là một trong những sắc thuế đóng vai trò quan trọng cho sự tồn ta ̣i và phát triển của Nhà nước, nhất là trong nền kinh tế thị trường, cụ thể như sau: Thứ nhất, thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của NSNN Thuế TNDN là loa ̣i thuế trực thu và khoản thu từ loa ̣i thuế này chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu NSNN.
Điều này được thể hiện bởi pha ̣m vi áp dụng của thuế TNDN là tương đối rộng, bao quát các nguồn thu từ các đối tượng nộp thuế tiến hành hoa ̣t động sản xuất kinh doanh đem la ̣i thu nhập ở mọi lĩnh vực, trên mọi địa bàn. Cùng với xu hướng phát triển kinh tế, quy mô của các hoa ̣t động kinh tế ngày càng được mở rộng hiệu quả kinh doanh ngày càng cao sẽ ta ̣o ra nguồn thu về thuế TNDN ngày càng lớn cho NSNN. Thứ hai, thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước ban hành một hệ thống pháp luật về thuế TNDN áp dụng chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, ta ̣o sự bình đẳng trong ca ̣nh tranh góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
Nhà nước có thể ha ̣ thấp mức thuế suất, ta ̣o ra những điều kiện ưu đãi về thuế thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng để tăng đầu tư và mở rộng sản xuất để nhằm nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng nhanh chóng. Ngược la ̣i, Nhà nước có thể tăng thuế, thu hẹp đầu tư, Nhà nước có thể giữ vững nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu đặt ra nếu trong thời kỳ phát triển quá mức nền kinh tế có nguy cơ dẫn đến sự mất cân đối. Như vậy, trong cùng một hành lang pháp lý như nhau, các doanh nghiệp sản xuất cùng một mặt hàng như nhau, cùng bán trên thị trường như nhau nếu cơ sở sản xuất càng ha ̣ thấp giá thành sản phẩm, càng thu được nhiều lợi nhuậnthì càng phát triển ma ̣nh và ngược la ̣i thì các doanh nghiệp sẽ càng dễ dẫn đến tình tra ̣ng phá sản. 8 Thứ ba, thuế TNDN là một công cụ của Nhà nước thể hiện chính sách công bằng xã hội Trong chính sách thuế TNDN, Nhà nước đã thiết kế đối tượng điều tiết khác nhau với các mức thuế suất và chế độ ưu đãi khác nhau.
Từ đó, kích thích các doanh nghiệp đầu tư phát triển hoa ̣t động sản xuất kinh doanh để có thu nhập cao một cách chính đáng. Một trong những vai trò của thuế TNDN là điều tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội. Thuế TNDN được áp dụng cho các loa ̣i hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thể hiện sự bình đẳng, công bằng về chiều ngang và chiều dọc. Về chiều ngang, bất kể một doanh nghiệp nào kinh doanh dưới bất kỳ hình thức nào nếu có thu nhập tính thuế thì phải nộp thuế TNDN.
Về chiều dọc, các doanh nghiệp với cùng một ngành nghề kinh doanh không phân biệt quy mô kinh doanh nếu phát sinh thu nhập tính thuế thì đều phải nộp thuế TNDN. Vai trò, ý nghĩa của công tác kiểm tra thuế TNDN 1. Khái niệm công tác kiểm tra thuế TNDN Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức, có hệ thống bằng pháp luật nhằm điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước. Trong quá trình tác động điều chỉnh pháp luật, Nhà nước phải thường xuyên tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện pháp luật để kịp thời uốn nắn, sửa chữa những sai sót đó.Vì vậy có thể hiểu công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát là một khâu trong quá trình quản lý Nhà nước và cũng chính là môt khâu quan trọng trong quá trình điều chỉnh pháp luật của Nhà nước.
Kiểm tra thuế là hoạt động thường xuyên mang tính nghiệp vụ của cơ quan quản lý thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế hoặc đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế.