phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện tại Cục Thuế tỉnh Bắc Giang. Chƣơng 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp từ thực tiễn Cục Thuế tỉnh Bắc Giang. 8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TNDN VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ TNDN 1.
Những vấn đề lý luận về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Luật Thuế TNDN không đƣa ra khái niệm cụ thể về thuế TNDN mà chỉ liệt kê các đối tƣợng ngƣời nộp thuế và đối tƣợng thu nhập chịu thuế. Trong các ấn phẩm khác nhau về giáo dục thuế, nghiệp vụ thuế, các học giả, nhà nghiên cứu đƣa ra nhiều quan điểm khác nhau về thuế TNDN.TS Nguyễn Thị Liên và PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu định nghĩa: “Thuế TNDN là sắc thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế”.9 Theo Giáo trình Thuế do PGS.
Phan Thị Cúc và TS. Phan Hiền Minh chủ biên, đƣợc xuất bản năm 2009 “Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh trên phần thu nhập sau khi trừ đi các khoản chi phí được trừ liên quan liên quan đến thu nhập của cơ sở SXKD, dịch vụ”.10 Theo các quan điểm trên cùng với quy định về ngƣời nộp thuế, thu nhập chịu thuế, cách tính thuế TNDN tại Văn bản hợp nhất số 22/VBHN-VPQH về luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, tác giả cho rằng: “Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập của các cơ sở SXKD trong kì tính thuế sau khi trừ đi các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ.” Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế. Pháp luật các nƣớc không có sự đồng nhất trong việc xác định đối tƣợng ngƣời nộp thuế. Chẳng hạn Luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Thụy Điển quy định: “Các công ty, các chủ thể kinh doanh có số vốn từ 50.000 Curon trở lên và có lao động làm thuê thì được coi là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp”.
11 Đối với Trung Quốc: “Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) được nộp bởi các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, bao 9 Giáo trình Nghiệp vụ Thuế (2008), Học viện Tài chính. 10 Phan Thị Thanh Thủy (2017), Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Đông Anh, Hà Nội, Trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. 11 Giáo Trình Luật Thuế Việt Nam (2022), Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, tr. 9 gồm các tổ chức nghề nghiệp, tất cả các tập đoàn nước ngoài có hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Trung Quốc và các đối tượng khác.
Tuy nhiên, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp vì lợi nhuận của họ được coi là thu nhập cá nhân.”12 Ngƣời nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập (thuế này không bao gồm hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác xã sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp, cá nhân kinh doanh không theo Luật Doanh nghiệp). Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp ngoài những đặc điểm chung của thuế là một khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách; tính pháp lý cao; và là khoản nộp không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp13 thì còn có một số đặc điểm riêng, cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của doanh nghiệp, có tính chất điều tiết sản xuất, kinh doanh. Tính chất trực thu đƣợc biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tƣợng nộp thuế và đối tƣợng chịu thuế. Đặc điểm của tính trực thu là việc đánh thuế có tính đến khả năng của ngƣời nộp thuế.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế đánh vào thu nhập chịu thuế (hay là lợi nhuận) của các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế. Thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đƣợc xác định là thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, hàng hóa trừ khoản chi phí đƣợc trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, hàng hóa đó. Để xác định chính xác thu nhập chịu thuế và đảm bảo sự công bằng giữa các đối tƣợng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với toàn bộ thu nhập của nhà đầu tƣ đó là thu nhập bằng tiền mặt và cả phần lãi vốn đầu tƣ. Về lý thuyết, quan điểm này thể hiện sự đảm bảo công bằng giữa những ngƣời nộp thuế.
Nhƣng thực tế, để có thu nhập giống nhau thì mỗi chủ thể tạo ra thu nhập lại có chi phí khách quan khác nhau nhƣ chi phí tiền lƣơng, chi phí quản lý, chi phí khắc phục rủi ro hoặc khó có thể xác định đƣợc số thu nhập sẽ hình thành trong tƣơng lai, nên nếu dựa vào thu nhập hoàn chỉnh để làm cơ sở đánh thuế thì nguyên tắc công bằng không 12 Jenny Liao, Corporate Income Tax in China, Doing Business in China. 13 Giáo Trình Luật Thuế Việt Nam (2022), Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, tr. 10 đƣợc đảm bảo và không khả thi. Do đó, thu nhập chịu thuế phải đƣợc xác định trong những trƣờng hợp cụ thể, phải đƣợc xác định trên cơ sở doanh thu của doanh nghiệp và các khoản chi phí gắn liền với quá trình tạo ra doanh thu.
Mức động viên vào ngân sách nhà nƣớc đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều hơn (theo số tuyệt đối) các doanh nghiệp có thu nhập thấp. Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng mức thuế suất thống nhất. Bản chất đặc trƣng của loại thuế trực thu là Nhà nƣớc điều tiết một cách trực tiếp lên thu nhập của đối tƣợng nộp thuế.
Vì vậy, một trong những nguyên tắc khi ban hành chính sách thuế đối với loại thuế này là nguyên tắc “công bằng”, công bằng theo chiều dọc và chiều ngang. Về chiều ngang, bất kể tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế thì đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Về chiều dọc, cùng một ngành nghề không phân biệt quy mô kinh doanh nếu có thu nhập chịu thuế thì đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Với mức thuế suất thống nhất, doanh nghiệp nào có thu nhập cao thì phải nộp nhiều thuế hơn (theo số tuyệt đối) đối với doanh nghiệp có thu nhập thấp.
Do đó, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp luôn tồn tại nhiều mức thuế suất, nhƣng trong đó mức thuế suất áp dụng phổ biến cho hầu hết các đối tƣợng nộp thuế là mức thuế chính hay còn gọi là thuế suất phổ thông. Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế phức tạp, có tính ổn định không cao. Việc quản lý thuế, thu thuế tƣơng đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thƣờng lớn hơn so với các thuế khác. Đối với thuế thu nhập, ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, địa điểm phát sinh thu nhập, thời hạn cƣ trú của chủ sở hữu thu nhập, tính ổn định của thu nhập.
Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định đƣợc các khoản khấu trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm bảo đảm mục tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tƣợng nộp thuế. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp Một trong những vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp là điều tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội. Thuế thu nhập doanh nghiệp đƣợc áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thể hiện sự bình đằng, công bằng về chiều ngang và chiều dọc. Trong chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp, Nhà nƣớc đã thiết kế đối tƣợng điều tiết khác nhau với các mức thuế suất 11 và chế độ ƣu đãi khác nhau.
Do vậy, chính sách thuế đã tác động mạnh mẽ đến cung cầu các loại nguyên, nhiên, vật liệu, hàng hóa, dịch vụ khác nhau để điều chỉnh các lực lƣợng thị trƣờng và điều chỉnh quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp. Sự bình đẳng của chính sách thuế sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, có năng suất cao dẫn đến thu nhập cao hơn. Từ đó kích thích các doanh nghiệp đầu tƣ phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh để có thu nhập cao một cách chính đáng. Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, khi kinh tế càng phát triển thì khoảng cách giàu - nghèo trong xã hội càng phân hóa rõ rệt.
Nhà nƣớc sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của chủ thể kinh doanh vào ngân sách nhà nƣớc công bằng, hợp lý. Bằng các quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, Nhà nƣớc thể hiện sự quan tâm đúng mức đối với ngƣời nộp thuế, đồng thời, góp phần chia sẻ gánh nặng thuế với ngƣời nộp thuế, tạo điều kiện cho ngƣời nộp thuế duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông qua chính sách miễn, giảm, ƣu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tác động đến quá trình thu hút vốn đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế các vùng miền và giữa các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, khuyến khích doanh nghiệp đầu tƣ vào những ngành, sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ cao,. phù hợp với mục tiêu điều chỉnh kinh tế của Nhà nƣớc.
Thuế thu nhập doanh nghiệp còn có tác động lớn tới hình thành vốn phát triển sản xuất kinh doanh. Vốn của doanh nghiệp hàng năm đƣợc bổ sung từ nhiều nguồn, song trong đó một bộ phận rất quan trọng là từ lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính phủ thực hiện giảm thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng nhanh tích lũy và tích tụ vốn.