Chương I của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/06/2019. Nhìn chung, việc quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN nói riêng phải đảm bảo minh bạch, chuyên nghiệp, liêm chính, đổi mới đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của NNT. Đây cũng là tuyên ngôn của Ngành thuế xác định luôn coi trọng, xây dựng và gìn giữ lâu dài. Mọi tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của luật.
Có thể nói nguyên tắc này yêu cầu các đối tượng nêu trên thực hiện nghĩa vụ thuế bắt buộc theo quy định của các Luật thuế khác nhau. Ví dụ do- anh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh thì thực hiện theo quy định của luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các thông tư, nghị định liên quan; các cá nhân thì thực hiện theo luật thu nhập cá nhân; hộ gia đình, hộ kinh doanh thì thực hiện theo quy định hộ khoán, hộ kê khai,… Trên cơ sở NNT thực thi các quy định của pháp luật về thuế TNDN thì các cơ quan quản lý thuế, các cơ quan khác của Nhà nước được giao nhiệm vụ quản lý thu thực hiện việc quản lý thuế theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế. Không chỉ đối với người nộp thuế mà chủ thể quản lý thuế cần phải đảm bảo tính công khai, minh bạch. Các khoản thu phục vụ cho mục đích công được công khai thì quá trình thu cũng cần công khai.
Tạo cho NNT một niềm tin tuyệt đối với Nhà nước trong việc sử dụng ngân sách Nhà nước cho các hoạt động khác nhau. Trong thời đại công nghệ số phát triển vượt trội như hiện nay, việc cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong việc quản lý thuế là vô cùng quan trọng. Vừa tiết kiệm thời gian cho cả người nộp thuế lẫn người thu thuế, vừa dễ dàng trong việc thống kê và kiểm soát. Do đó, cần thiết thực hiện cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong quản lý thuế; áp dụng các nguyên tắc quản lý thuế theo thông lệ quốc tế, trong đó có nguyên tắc bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế, nguyên tắc quản lý rủi ro trong quản lý thuế và các nguyên tắc khác phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Nhà nước quy định về nguyên tắc rủi ro trong quản lý thuế để đảm bảo sự khách 16 quan cũng như tính công bằng, hỗ trợ của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức phát sinh rủi ro trong quá trình nộp thuế. Hiện nay, trong qua trình phát tiêrn kinh tế và gia nhập kinh tế toàn cầu thì việc xuất khẩu, nhập khẩu đang được Nhà nước ưu tiên hàng đầu. Tỷ lệ xuất khẩu tăng cao thu về nguồn ngoại tệ lớn. Vì vậy, nguyên tắc áp dụng biện pháp ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật về hải quan và quy định của Chính phủ là rất quan trọng và cần phải áp dụng ngay.
Vai trò của quản lý thuế TNDN Quản lý thuế TNDN để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội và đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào NSNN. Thông qua việc lựa chọn áp dụng các biện pháp quản lý thuế có hiệu quả, cũng như xây dựng và áp dụng quy trình, thủ tục về thuế hợp lý, cơ quan thuế bảo đảm thu thuế đúng luật, đầy đủ và kịp thời vào NSNN. Giúp Nhà nước thực hiện quyền kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các DN trong xã hội. Cụ thể là Cơ quan thuế tổ chức thu thập, nắm bắt, lưu giữ thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, phải tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của NNT.
Cung cấp những thông tin về việc chấp hành luật thuế TNDN và những thông tin về mức độ phù hợp, tính khả thi của luật thuế TNDN, các văn bản, chế độ hướng dẫn. Tạo điều kiện hình thành thói quen tuân thủ pháp luật của các DN, các cá nhân trong hoạt động KT-XH. Hiện nay, NNT có trách nhiệm phải tự kê khai thuế thông qua các hoạt động kinh tế. Tức là NNT tự tính toán các nghĩa vụ và tự kê khai các hoạt động kinh tế phát sinh, các giao dịch kinh doanh của NNT.
Góp phần tạo ra môi trường kinh doanh ổn định, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh trong các hoạt động kinh tế. Thông qua hoạt động quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy định về quản lý thuế. Những điểm còn bất cập trong chính sách thuế và khiếm khuyết trong các luật thuế được phát hiện trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý thuế. Trên cơ sở đó, cơ quan điều hành thực hiện pháp luật đề xuất bổ sung, sửa đổi các luật 17 thuế.
Sự cần thiết của việc quản lý thuế TNDN Thuế TNDN đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Nhà nước thực hiện yêu cầu quản lý và điều tiết vĩ mô mọi hoạt động SXKD thuộc mọi thành phần kinh tế. Quản lý thuế giúp Nhà nước nắm được số lượng DN, tình hình sản xuất, kinh doanh của từng loại hình, lĩnh vực cũng như của NNT; tình hình chấp hành pháp luật thuế và những thông tin về NNT để xây dựng chính sách thuế phù hợp với thực trạng hoạt động SXKD của các DN, với mục tiêu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ, đồng thời kết hợp với các chính sách khác. Số lượng DN tăng lên nhanh chóng, đồng thời quy mô, hình thức, cách thức hoạt động của các DN cũng đa dạng, phức tạp hơn, nên cần phải được quản lý một cách chặt chẽ, hợp lý. Giảm thiểu các hành vi gian lận thuế TNDN, chống thất thu thuế cho NSNN.
Nội dung quản lý thuế TNDN 1. Công tác lập dự toán và triển khai công tác thu thuế Thu NSNN là quá trình huy động, thu nhận các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nguồn vốn để Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ chi tiêu, các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội. Lập dự toán thu thuế là khâu đầu tiên của chu trình ngân sách nhằm xây dựng khả năng huy động nguồn thu của địa phương trong một năm ngân sách phục vụ nhu cầu chi tiêu cho phát triển KT-XH ở địa phương. Thông qua các công cụ thu NSNN, đặc biệt là các công cụ mang tính chất bắt buộc như thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu…), Nhà nước thực hiện điều tiết vĩ mô nền KT-XH nhằm hạn chế đến mức thấp nhất khuyết tật của thị trường, phát huy những mặt tích cực, từ đó nỗ lực làm cho thị trường hoạt động ngày càng hiệu quả hơn.
Việc nâng cao chất lượng quản lý NSNN sẽ góp phần huy động một cách tốt nhất các nguồn lực tài chính, phân bổ và sử dụng các nguồn lực này một cách hiệu quả, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị - xã hội. Tại Việt Nam, NSNN luôn là công cụ đảm bảo nguồn vốn ổn định để nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch, chương trình 18 phát triển KT-XH và đảm bảo an sinh xã hội. Do đó, cần có báo cáo làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm, có giải pháp tháo gỡ, khắc phục việc thu chi NSNN và triển khai công tác thu thuế theo định kỳ. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận thẳng thắn vào tồn tại như chất lượng lập của công tác lập dự toán.
Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan song cũng có nguyên nhân chủ là chính các địa phương muốn xây dựng dự toán thấp. Dự toán thu ngân sách là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý thu thuế, góp phần định hướng nguồn thu và xác lập nguồn thu chi tiết tại các kỳ tương lai, chính vì vậy việc tính toán chính xác dự toán thu thuế sát với thực tại là hết sức cần thiết. Đăng ký thuế, khai thuế và nộp thuế Đăng ký thuế Đăng ký thuế là việc NNT kê khai những thông tin theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để khai báo sự hiện diện của mình và bắt đầu thực hiện các nghĩa vụ về thuế với Nhà nước theo các qui định của pháp luật. Đây là khâu đầu tiên và quan trọng trong việc quản lý thuế.
Tuy nhiên muốn quản lý được đối tượng nộp thuế thì cơ quan thuế phải thực hiện tốt khâu quản lý đăng ký thuế. Thông qua việc đăng ký thuế mà cơ quan quản lý thuế có thể lưu giữ thông tin về NNT. Kê khai thuế Khai thuế là việc NNT tự xác định số tiền thuế phải nộp phát sinh trong kỳ kê khai thế theo quy định Luật thuế TNDN và kê khai vào các tờ khai thuế (tháng, quý, năm, quyết toán và từng lần phát sinh) cùng các tài liệu kèm theo của NNT lập và gửi đến cơ quan thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Khai thuế TNDN đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp hầu hết là loại khai thuế theo năm tài chính (trừ một số trường hợp khác).
Nộp thuế Quản lý thuế là công việc liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, từ năm 2007, khi thực hiện cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp thuế, vai trò của người nộp thuế đã được đề cao hơn. Theo đó, người nộp thuế tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình, cơ quan quản lý thuế tập trung 19 vào thực hiện các chức năng tuyên truyền, hỗ trợ kiểm tra, giám sát người nộp thuế. Trong khi đó, nội dung quản lý thuế lại được quy định rải rác ở nhiều luật thuế nên đã gây khó khăn cho cả người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế trong việc tuân thủ các quy định về quản lý thuế.
Việc ban hành Luật quản lý thuế áp dụng chung cho các loại thuế sẽ khắc phục được tình trạng trên và không phải sửa đổi nhiều luật thuế. Từ đó sẽ tách bạch được nội dung quy định về quản lý thuế ra khỏi các luật thuế hiện hành.