phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tải liệu tham khảo, đề án được kết cầu gồm 3 chương: Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp Phần 2: Thực trạng quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại chỉ cục thuế thành phố Sơn La — Mường La, tinh Son La Phần 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục Thuế thành phố Sơn La — Mường La, tỉnh Sơn La PHAN 1. CO SO LY LUAN VA THUC TIEN VE QUAN LY THU THUE THU NHAP DOANH NGHIEP 1. Khái niệm, công cụ, phương pháp quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp. Khái niệm, đặc điểm thuế thu nhập doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước (NSNN) nhằm đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của đất nước là một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân.
Nhà nước bằng sức mạnh quyền lực chính trị của mình, buộc mọi công dân phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với các dịch vụ mà Nhà nước cung cấp cho công dân bằng cách chuyên một phần thu nhập của mình vào NSNN. Thuật ngữ “Thuế” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội của mọi quốc gia. Song, quan điểm về thuế chưa được thống nhất. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội, thuế đã được đề cập dưới các góc độ khác nhau.
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze (1934), Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp cho những chỉ tiêu của Nhà nước. Theo Nguyễn Thị Bắt và Vũ Duy Đài (2002), thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp theo luật định để đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Theo điều 3 Luật Quản lý Thuế 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế.
Qua những quan điểm trên, ta có thé thay được bản chất cơ bản của thuế như sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của mọi thành phần trong nền kinh tế đối với nhà nước. Thuế thu vào NSNN để đảm bảo cân đối chỉ tiêu cho nhà nước, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho các đối tượng nộp thuế. Thuế giúp nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô, phân phối lại thu nhập, thực hiện công bằng xã hội. Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nước đã ban hành các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các khoản thu này được bố trí sử dụng theo dự toán ngân sách nhà nước đã được phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đầu tư phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Trong hé thống thuế ở các nước, có nhiều loại thuế khác nhau, có đối tượng tính thuế, đối tượng nộp thuế khác nhau. Trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp mang đặc điểm riêng ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho NSNN. Nó còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hòa thu nhập xã hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước. Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế.
Hiện nay ở các nước phát triển, thuế thu nhập doanh nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo én định nguồn thu ngân sách Nhà nước. Mỗi nước có những đặc điểm kinh tế khác nhau vì vậy việc áp dụng thuế TNDN ở từng nơi cũng khác nhau. Từ các quan điểm và những phân tích trên có thể rút ra khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: “Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh trong kỳ”. Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu được tính trên lợi nhuận của doanh nghiệp trong thời kỳ kinh doanh.
Lợi nhuận để làm căn cứ tính thuế bao gồm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính, lợi nhuận từ hoạt động bất thường.2 Đặc điểm Là loại thuế thu nhập nên thuế TNDN mang đầy đủ đặc điểm của thuế thu nhập thông thường. Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp đánh vào lợi nhuận của các cơ sở kinh doanh. Bởi vậy, mức động viên của NSNN đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng như quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế cao sẽ phải nộp thuế nhiều.
Ngược lại, những doanh nghiệp có thu nhập thấp, gặp khó khăn sẽ được giảm thuế, thậm chí được miễn thuế. Thứ hai, thuế TNDN là thuế trực thu, ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho NSNN, nó còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hòa thu nhập xã hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước. Bởi vậy, pháp luật thuế thu nhập ở các nước thường có những quy định về chế độ ưu đãi, miễn giảm thuế để đảm bảo chức năng khuyến khích của thuế thu nhập hoặc thực hiện việc áp dụng đánh thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần đối với một số khoản thu nhập chịu thuế để thực hiện các mục tiêu điều tiết. Thứ ba, thuế thu nhập là một loại thuế phức tạp có tính ỗn định không cao, việc quản lý thuế, thu thuế tương đối khó khăn, chi phí quan lý thuế thường lớn hon so với các thuế khác.
Đối với thuế thu nhập, địa điểm phát sinh thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu thu nhập, tính ổn định của thu nhập. Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định được các khoản khấu trừ hợp lý dé tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm bảo đảm mục tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế. Thứ tư, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) thuế quốc gia và văn bản QPPL thuế quốc tế. Bởi thuế thu nhập là thuế trực thu nên nó có thể là đối tượng được điều chỉnh bởi hiệp định tránh đánh thuế hai lần.
Bên cạnh đó, thuế TNDN cũng mang đặc điểm riêng của loại thu nhập doanh nghiệp dưới góc độ phân biệt với thuế thu nhập cá nhân như về đối tượng nộp thuế là tổ chức sản xuất kinh doanh sản xuất hàng hóa, dịch vụ; về thu nhập bị đánh thuế; về cách tính thuế tính đến yếu tố như doanh thu, chỉ phí, về ưu đãi thuế. Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu, vì vậy đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế thuộc các thành phần khác nhau đồng thời cũng là người chịu thuế. Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019, và Nghị định 126/2020 quy định: “Tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp của 03 quý đầu năm tính thuế không được thấp hơn 75% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán năm. Trường hợp người nộp thuế nộp thiếu so với số thuế phải tạm nộp 03 quý dau nam thi phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế nộp thiếu kể từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý 03 đến ngày nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước” Thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư.
Thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN, va ngược lại khi thu nhập tính thuế âm thì doanh nghiệp, tô chức không phải nộp thuế TNDN. Khái niệm, nguyên tắc quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm Đề tiếp cận khái niệm quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp, trước hết ta cần tiếp cận các khái niệm liên quan đến quản lý nhà nước. Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình trình xã hội và hành vi hoạt động của con người đề duy trì va phat triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tô quốc XHCN.
Lịch sử đã chứng minh thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước. Sự xuất hiện thuế trong lịch sử nhân loại gắn liền với nhu cầu chỉ tiêu của nhà nước, nó thể hiện quyền lực của nhà nước và là cơ sở cho sự phát triên của nhà nước, đi cùng với nó là sự gia tăng quyền lực va nhién vụ của nhà nước. Vì thế, mà quản lý thu thuế nói chúng và quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng ngày càng được hoàn thiện hơn. Qua các khái niệm về quản lý trên rút ra được khái niệm quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Quan ly thu thué thu nhập doanh nghiệp là quá trình tổ chức và kiểm tra việc thực thi các chính sách và pháp luật thuế đối với doanh nghiệp thông qua quá trình tác động của cơ quan thuế các cấp lên các doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự tuân thủ và huy động đầy đủ những khoản tiền thuế vào NSNN theo luật định với kết quả cao. Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp cấp Trung ương thực hiện hoạch định, ban hành các văn bản luật tới các cấp quản lý địa phương và người nộp thuế (NNT). Quản lý thu thuế TNDN ở địa phương là quá trình triển khai các chính sách của Trung ương, xây dựng, lập dự toán thuế và kiểm tra, giám sát tình hình nộp thuế TNDN tại địa phương theo đúng mục tiêu kinh tế - xã hội ở địa phương. Quản lý thuế TNDN gắn liền với cơ quan thuế, một tổ chức Nhà nước có tư cách pháp nhân công quyền.
Các cơ quan thuế này áp dụng tông thê các phương thức, các quy trình quản lý tác động vào hệ thống quản lý thuế theo những mục tiêu ngành thuế đặt ra trong từng thời kỳ nhất định. Do vậy: Quản lý thuế TNDN là hoạt động tô chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo các DN chấp hành nghĩa vụ thuế TNDN vào NSNN.