PHẦN MỞ ĐẦU 1/ Lý do chọn đề tài: Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất, khuyến khích đầu tư, xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và xoá đói giảm nghèo. Trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp đóng góp một phần quan trọng cho ngân sách nhà nước. Xã hội càng phát triển thì vai trò của bộ máy thu thuế ngày càng quan trọng, thiết yếu. Hằng năm, nhà nước phải bỏ ra một khoản kinh phí không nhỏ để duy trì hoạt động của bộ máy thu thuế này.
Tuy nhiên, qua thực tiễn quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp cho thấy, tình trạng trốn thuế, lậu thuế, gian lận về thuế, nợ đọng thuế vẫn còn diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước nói chung và địa bàn thành phố Mỹ Tho nói riêng. Tình trạng này vừa làm thất thu cho ngân sách nhà nước, vừa không bảo đảm công bằng xã hội. Như vậy, để nâng cao hiệu quả thu thuế đòi hỏi công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp phải thật sự minh bạch, trung thực, chính xác nhằm đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh và thực hiện công bằng xã hội. Đây cũng là vấn đề trọng yếu, được quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý thuế.
Chi cục thuế thành phố Mỹ Tho hiện quản lý khoảng 1000 doanh nghiệp trong đó có khoảng 3% doanh nghiệp lớn và đa phần là các doanh nghiệp vừa, nhỏ và rất nhỏ. Hằng năm, chi cục thuế thành phố Mỹ Tho phải tiêu tốn một khoản kinh phí để vận hành 16 bộ máy thu thuế cũng như thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn chẳng hạn như công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhờ vậy đã thu về cho nhà nước một khoản ngân sách không nhỏ. Những năm gần đây, số nợ thuế còn tồn đọng tăng đáng kể và chưa có chiều hướng đi xuống. Đồng thời, người nộp thuế cũng như nhiều báo chí đưa tin rằng thuế tại Mỹ Tho cao do nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu phản ánh chi phí hành chính cao, chi phí khai thuế cao, thủ tục rườm rà.
Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý thuế tại chi cục. Bên cạnh đó, thuế suất cao sẽ làm tăng đáng kể nguồn thu cho ngân sách, tuy nhiên cũng làm tăng động cơ trốn thuế, gian lận thuế của các doanh nghiệp. Vì vậy, với những vấn đề bất cập trên, đề tài: “ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ MỸ THO” ra đời nhằm đánh giá công tác quản lý thuế trên địa bàn thành phố Mỹ Tho. Từ đó, có cái nhìn toàn diện về hiệu quả quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục thuế thành phố Mỹ Tho, những khó khăn bất cập trong việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp của cơ quan thuế.
Cuối cùng, tác giả đề xuất chính kiến nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản lý thuế, đảm bảo nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội, đất nước. 2/ Tổng quan về các công trình nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở tham khảo các đề tài sau: + Các công trình nghiên cứu khoa học ở nước ngoài: “The future of income tax administration in UK” (2007 – 2008), All Party Parliamentary Taxation Group (Chủ biên: Chittenden). Đề tài được xem xét và ứng dụng tại Vương Quốc Anh. Đề tài nêu lên các chi phí tuân thủ của người nộp thuế và chi phí hành thu của cơ quan thuế tác động đến hiệu quả quản lý thuế.
So sánh chi phí tuân thủ ở cơ quan thuế với cơ quan hải quan. So sánh chi phí tuân thủ về thuế theo qui mô doanh nghiệp, công ty. Tác giả cũng đưa ra những tác động trong xu thế mới nổi của nền kinh tế vào hệ thống thuế và công tác quản lý thuế. Ngoài ra, tác giả còn xem xét những ảnh hưởng của thủ tục hành chính đến tình trạng gian lận thuế, trốn thuế cũng như các chi phí 17 của người nộp thuế tác động đến hiệu quả quản lý thuế.
Tác giả so sánh tình trạng gian lận thuế, xác suất vi phạm từ công tác thanh tra, kiểm tra thuế và số thuế truy thu ở các gia đoạn khác nhau (giai đoạn trước và sau khi thay đổi các thủ tục hành chính như giảm số giấy tờ khai thuế, giảm thời gian làm thủ tục và tăng cường các giải pháp hỗ trợ đối tượng nộp thuế). Theo đó, tác giả kết luận rằng chi phí tuân thủ ở Anh quá cao đủ để làm sai lệch các quyết định nộp thuế của người nộp thuế và chi phí tuân thủ theo qui mô của doanh nghiệp, công ty vừa và nhỏ là cao hơn rất nhiều so với qui mô doanh nghiệp, công ty lớn. Như vậy, tình trạng trốn thuế và gian lận thuế cao hơn ở các doanh nghiệp, công ty nhỏ. Cuối cùng, tác giả căn cứ vào những khuyến nghị cho chính sách thuế và quy trình quản lý thuế đã có, tác giả đưa ra một số giải pháp mới nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế và nâng cao hiệu quả quản lý thuế.
“Cải cách thuế ở Việt Nam”, Phạm Minh Đức & Lê Minh Tuấn (2011), Worldbank, Ban Quản lý kinh tế khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Ấn phẩm nêu lên cách quản lý thuế của các nước, từ đó rút kinh nghiệm và đưa ra định hướng xây dựng bộ máy quản lý thuế hiện đại ứng dụng cho Việt Nam. Được sự hỗ trợ về các mặt của Ngân hàng Thế giới, ấn phẩm đã đưa ra các mục tiêu chi tiết cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế nhằm ứng dụng một cách hiệu quả nhất. Ấn phẩm còn nêu lên thực trạng quản lý thuế ở tất cả các sắc thuế tại Việt Nam, nêu rõ tình hình trốn thuế, gian lận thuế, tình hình thanh tra, kiểm tra thuế, thực trạng tham nhũng trong lĩnh vực thuế, nguyên nhân dẫn đến thất thoát nguồn thu, giải quyết nợ đọng về thuế… + Các công trình nghiên cứu khoa học trong nước Tác giả Nguyễn Đức Hạnh (2011), “Hoàn thiện công tác kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”; Tác giả Trần Văn Ninh (2012), “Hoàn thiện công tác kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục thuế quận Cẩm Lệ”.
Hai đề tài nêu lên quy trình kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp, các nhân tố tác động đến công tác kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp như những thay đổi về chính sách thuế, tổ chức bộ máy quản lý thuế, việc ứng dụng công 18 nghệ thông tin vào công tác quản lý thuế và nhận thức của doanh nghiệp về nghĩa vụ thuế. Đề tài nêu lên thực trạng kiểm soát và số truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp đo lường thông qua công tác kiểm soát và cưỡng chế nợ thuế của cơ quan thuế như kiểm soát hồ sơ khai thuế, kiểm soát hóa đơn thuế, chứng từ có liên quan…. Từ đó, tác giả đề ra một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn. Cuối cùng tác giả nhận xét công tác kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp ở các dơn vị trên đã đạt được một số kết quả nhất định.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại: hiện tượng trốn thuế, chây ỳ, nợ đọng thuế ngày càng phổ biến, với hình thức ngày càng đa dạng, tinh vi hơn. Như vậy, công tác kiểm soát thuế đòi hỏi phải ngày càng chặt chẽ hơn. Nguyễn Thị Mỹ Dung (2012), “ Quản lý thuế ở Việt Nam, Hoàn thiện và đổi mới”, Phát triển và hội nhập số 7(17) – tháng 11-12/2012. Bài nghiên cứu nêu lên thực trạng quản lý thuế tại Việt Nam; So sánh mô hình quản lý thuế của Việt Nam và các nước.Từ đó, tác giả nêu lên một số bất cập trong công tác quản lý thuế tại Việt Nam thời gian qua và đưa ra một số giảỉ pháp đẩy mạnh công tác quản lý thuế.
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Lê Duy Hiếu (2013), với tên đề tài: “Đánh giá hiệu quả hành thu chính sách thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”. Tác giả tập trung phân tích số thu thuế; đo lường chi phí xã hội của công tác hành thu chính sách thuế thu nhập cá nhân; phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hành thu để đánh giá hiệu quả hành thu của chính sách thuế thu nhập cá nhân, từ đó tác giả đề xuất các gợi ý nhằm nâng cao hiệu quả công tác hành thu chính sách thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới. “Chiến lược cải cách hệ thống thuế từ năm 2011 đến năm 2020” Ban hành theo quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/05/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Quyết định nêu rõ những mục tiêu cụ thể về cải cách hệ thống thuế và công tác quản lý thuế các cấp từ trung ương đến địa phương.
19 Như vậy, bên cạnh tham khảo các công trình nghiên cứu trên thì đề tài “ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ MỸ THO” có một số điểm nhấn cụ thể như sau: Những điểm kế thừa: Tác giả học hỏi, kế thừa và ứng dụng cách tiếp cận của các công trình nghiên cứu nước ngoài như xác định chi phí tuân thủ của đối tượng khai thuế; xác định chi phí hành thu của cơ quan thuế; xác định một đồng chi phí bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng thuế. Tác giả kế thừa từ các công trình nghiên cứu trong nước như phân tích hiệu quả của mô hình quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay; phân tích tình hình kinh tế xã hội, tình hình thu ngân sách và thu thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong đó, tập trung phân tích số thu thuế; đo lường chi phí xã hội của công tác hành thu; phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hành thu để đánh giá hiệu quả hành thu chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp. ♦ Những điểm phát triển: Luận văn đánh giá toàn bộ hoạt động quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp của Chi Cục thuế giai đoạn 2010-2013 bằng cách áp dụng lý thuyết tài chính công, công cụ phân tích chi phí – lợi ích.